From vocational training to sustainable employment: reforming skills development policies for rural workers
TS. Đinh Thị Trâm
Trường Đại học Lao động – Xã hội
Email: [email protected]
(Quanlynhanuoc.vn) – Phát triển kỹ năng là điều kiện quan trọng để lao động nông thôn nâng cao năng suất, chuyển đổi nghề nghiệp và cải thiện sinh kế. Hiệu quả của chính sách phụ thuộc vào khả năng kết nối quá trình đào tạo với nhu cầu sử dụng lao động và các dịch vụ hỗ trợ sau học nghề. Trên cơ sở phân tích văn bản chính sách, số liệu thống kê chính thức và nghiên cứu về hiệu quả đào tạo, bài viết xây dựng khung phân tích gồm tiếp cận học tập, hình thành kỹ năng, sử dụng kỹ năng và chất lượng việc làm. Từ khung này, bài viết làm rõ những vấn đề về xác định nhu cầu, tổ chức đào tạo, phân bổ nguồn lực và trách nhiệm thực hiện; đề xuất đổi mới chính sách theo kết quả việc làm, kết hợp cơ chế tài chính có kiểm chứng với bảo đảm công bằng tiếp cận. Đóng góp của bài viết là cụ thể hóa mối liên hệ giữa phát triển kỹ năng và quản lý quá trình chuyển tiếp từ học nghề sang sinh kế bền vững.
Từ khóa: Đào tạo nghề; phát triển kỹ năng; lao động nông thôn; việc làm bền vững; chính sách công.
Abstract: Skill development is a key factor in enabling rural workers to increase productivity, transition to new occupations, and improve their livelihoods. The effectiveness of policies depends on the ability to align training programs with labor market needs and provide post-training support services. Based on an analysis of policy documents, official statistics, and research on training effectiveness, this article develops an analytical framework comprising learning approaches, skill development, skill utilization, and job quality. Using this framework, the article clarifies issues related to needs assessment, training organization, resource allocation, and implementation responsibilities; it proposes policy innovations based on employment outcomes, combining evidence-based financial mechanisms with guarantees of equitable access. The article’s contribution is to clarify the relationship between skills development and the management of the transition from vocational training to sustainable livelihoods.
Keywords: Vocational training; skills development; rural labor; sustainable employment; public policy.
1. Đặt vấn đề
Đầu tư cho đào tạo nghề tạo điều kiện để lao động nông thôn nâng cao năng lực sản xuất, tiếp cận công việc mới và thích ứng với thay đổi công nghệ. Giá trị của khoản đầu tư này được hiện thực hóa khi kỹ năng đã học được sử dụng trong công việc và chuyển thành thu nhập, điều kiện lao động hoặc cơ hội nghề nghiệp tốt hơn. Vì thế, hiệu quả chính sách phải được xem xét trong toàn bộ quá trình từ tiếp cận đào tạo đến sử dụng kỹ năng và duy trì sinh kế. Cách tiếp cận này đặt kết quả của người lao động ở vị trí trung tâm trong thiết kế, tổ chức thực hiện và đánh giá chính sách.
Chỉ thị số 37-CT/TW ngày 10/7/2024 của Ban Bí thư ghi nhận kết quả đào tạo nghề cho lao động nông thôn, đồng thời chỉ rõ những hạn chế về chất lượng, điều kiện bảo đảm đào tạo và hỗ trợ người dân sau học nghề. Quyết định số 328/QĐ-TTg ngày 24/02/2026 của Thủ tướng Chính phủ tiếp tục xác lập định hướng đổi mới thông qua Chương trình “Đổi mới, nâng cao chất lượng đào tạo nghề nông thôn đến năm 2030”. Yêu cầu đặt ra là cụ thể hóa các định hướng này thành cơ chế gắn kết đào tạo, sử dụng lao động và phát triển sản xuất, với trách nhiệm thực hiện và kết quả có thể kiểm chứng.
Theo Cục Thống kê, năm 2025, tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng, chứng chỉ đạt 29,2%; lao động trong khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm 25,7% tổng số lao động có việc làm; tỷ lệ việc làm phi chính thức chung là 63,1%. Các chỉ tiêu toàn quốc này cho thấy bối cảnh mà chính sách phát triển kỹ năng phải giải quyết đồng thời yêu cầu nâng cao trình độ và chất lượng việc làm. Khi phân tích đối tượng thụ hưởng, cần phân biệt lao động nông thôn theo địa bàn cư trú với lao động nông nghiệp theo ngành kinh tế. Đồng thời, tỷ lệ có bằng, chứng chỉ phản ánh một phương diện của trình độ đào tạo, chưa bao quát toàn bộ kỹ năng tích lũy qua kinh nghiệm làm việc.
Bài viết sử dụng phân tích tài liệu và đối chiếu chính sách, tập trung vào văn bản giai đoạn 2024–2026, số liệu lao động năm 2025 và các nghiên cứu về đào tạo, hỗ trợ việc làm. Tài liệu được lựa chọn theo mức độ liên quan đến thiết kế công cụ, tổ chức thực hiện và đánh giá kết quả. Trọng tâm phân tích là cơ chế chuyển hóa kỹ năng thành cơ hội sinh kế và những điều kiện để cơ chế đó vận hành. Các nhận định mang tính tổng hợp và đề xuất chính sách, không phải ước lượng tác động nhân quả của một chương trình cụ thể. Câu hỏi nghiên cứu là Nhà nước cần tổ chức và điều phối những công cụ nào để phát triển kỹ năng góp phần tạo việc làm bền vững cho lao động nông thôn.
2. Cơ sở lý luận và khung phân tích
Phát triển kỹ năng là quá trình hình thành, cập nhật và vận dụng năng lực để thực hiện công việc, giải quyết vấn đề và thích ứng với thay đổi nghề nghiệp. Trong quá trình đó, đào tạo nghề kết hợp với học tập tại nơi làm việc, tích lũy kinh nghiệm và đào tạo lại. Phạm vi chính sách vì vậy bao gồm người mới gia nhập thị trường lao động, người đang làm việc cần nâng cao năng lực và người có nhu cầu chuyển nghề. Với lao động nông thôn, lựa chọn phương thức hỗ trợ phải xuất phát từ mục tiêu sinh kế và điều kiện tham gia của từng nhóm.
Theo cách tiếp cận của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO), việc làm bền vững (decent work) gắn với công việc có năng suất, thu nhập công bằng, an toàn, bảo trợ xã hội, quyền tại nơi làm việc và đối thoại xã hội. Vận dụng vào chính sách phát triển kỹ năng, chất lượng kết quả đào tạo được xem xét qua khả năng duy trì sinh kế, cải thiện điều kiện lao động và mở rộng cơ hội nghề nghiệp. Khả năng chuyển sang công việc tốt hơn cũng là một biểu hiện của tính bền vững. Vì vậy, tiêu chí đánh giá phải phản ánh cả chất lượng công việc hiện tại và năng lực thích ứng của người lao động.
Bài viết đề xuất khung phân tích gồm bốn khâu có quan hệ kế tiếp: tiếp cận học tập, hình thành kỹ năng, sử dụng kỹ năng và cải thiện chất lượng việc làm. Thông tin, thời gian và khả năng trang trải chi phí quyết định cơ hội tham gia học tập. Chương trình, người dạy và môi trường thực hành chi phối việc hình thành năng lực nghề. Nhu cầu tuyển dụng, điều kiện sản xuất và khả năng tiếp cận thị trường tạo cơ hội vận dụng năng lực đó. Thu nhập, mức độ ổn định của sinh kế và điều kiện lao động thể hiện kết quả cuối cùng. Một trở ngại tại bất kỳ khâu nào đều có thể làm giảm hiệu quả của những hỗ trợ đã thực hiện ở các khâu trước.
Báo cáo chung của Ngân hàng Thế giới (WB), ILO và UNESCO năm 2023 nhấn mạnh việc đáp ứng nhu cầu thị trường, tăng trách nhiệm về kết quả và sử dụng bằng chứng trong cải cách giáo dục nghề nghiệp. Card, Kluve và Weber (2018), qua tổng hợp hơn 200 nghiên cứu, cho thấy tác động trung bình của các chương trình thị trường lao động tích cực thường gần bằng không trong ngắn hạn và tích cực hơn sau hai đến ba năm; mức tác động khác biệt theo chương trình và nhóm tham gia. Bằng chứng này gợi mở yêu cầu đánh giá theo thời gian và đặc điểm đối tượng. Việc áp dụng vào nông thôn Việt Nam đòi hỏi chú ý tới tính mùa vụ, hình thức tự tạo việc làm và điều kiện thị trường tại địa bàn.
Tác động của đào tạo còn chịu ràng buộc từ phía cầu lao động. Carranza và McKenzie (2024) chỉ ra rằng trong một số bối cảnh, trở ngại quyết định là thiếu doanh nghiệp có vị trí tuyển dụng, dù người lao động đã được hỗ trợ kỹ năng và tìm việc. Theo đó, mở rộng quy mô đào tạo chỉ có ý nghĩa khi đi cùng cơ hội sử dụng năng lực được hình thành. Đối với tự tạo việc làm, cơ hội này phụ thuộc vào khả năng tiếp cận tư liệu sản xuất, tổ chức kinh doanh và tiêu thụ sản phẩm. Chính sách phát triển kỹ năng vì thế phải được kết nối với chính sách phát triển kinh tế tại địa phương.
Từ góc độ quản lý công, vai trò của Nhà nước thể hiện ở việc giảm bất cân xứng thông tin, hỗ trợ người gặp bất lợi và điều phối những hoạt động vượt quá khả năng tự tổ chức của từng chủ thể. Cơ sở đào tạo chịu trách nhiệm về năng lực nghề, nhưng không thể tự quyết định nhu cầu tuyển dụng; doanh nghiệp sử dụng kỹ năng, song không có đầy đủ động lực bảo đảm cơ hội học tập cho mọi nhóm lao động. Sự can thiệp của Nhà nước cần xử lý được khoảng cách trách nhiệm này. Tiêu chuẩn đánh giá chính sách do đó bao gồm hiệu quả sử dụng nguồn lực và mức độ công bằng trong tiếp cận cơ hội phát triển.
3. Những vấn đề đặt ra trong thiết kế và thực thi chính sách
3.1. Khoảng cách giữa nhu cầu học nghề và cơ hội sử dụng kỹ năng
Chỉ thị số 37-CT/TW ngày 10/7/2024 của Ban Bí thư chỉ ra những khó khăn trong quy hoạch sản xuất, xác định nhu cầu và nghề đào tạo, cùng sự phối hợp chưa đồng bộ giữa các chủ thể. Nhìn từ thiết kế chính sách, lập kế hoạch trên cơ sở ngành nghề sẵn có và khả năng tuyển sinh dễ tạo ra khoảng cách với nhu cầu sử dụng kỹ năng. Khi thiếu thông tin về công việc hoặc hoạt động sản xuất sau khóa học, chỉ tiêu tuyển sinh có thể được hoàn thành nhưng căn cứ bảo đảm đầu ra vẫn yếu. Mức độ của vấn đề này cần được xác định ở từng chương trình và địa bàn.
Nhu cầu học nghề được hình thành từ mong muốn, thông tin và điều kiện của người dân; nhu cầu sử dụng kỹ năng xuất phát từ tổ chức sản xuất và thị trường. Người lao động có thể lựa chọn lớp học thuận tiện về địa điểm, thời gian, trong khi công việc tương ứng lại ở xa hoặc không phù hợp trách nhiệm gia đình. Doanh nghiệp có vị trí tuyển dụng nhưng mức thu nhập dự kiến chưa bù đắp chi phí đi lại, chuyển chỗ ở và học nghề của người tham gia. Bởi vậy, quyết định mở lớp phải xem xét tính khả thi của việc kết nối cung và cầu, bao gồm cả chi phí chuyển tiếp từ học tập sang làm việc.
3.2. Sự liên thông giữa đào tạo ban đầu và phát triển năng lực nghề nghiệp
Chỉ thị số 37-CT/TW nhận định lao động nông thôn chủ yếu được học nghề ở trình độ sơ cấp và dưới ba tháng. Đào tạo ngắn hạn có thể phù hợp với nhu cầu bổ sung một kỹ thuật cụ thể, nhưng hiệu quả phụ thuộc vào mức độ thực hành và khả năng tiếp tục sử dụng kỹ năng. Nếu khóa học tách rời điều kiện sản xuất, người học khó củng cố năng lực và theo kịp thay đổi công nghệ. Yêu cầu chính sách là tạo sự liên thông giữa học tập, thực hành và cập nhật nghề nghiệp, thay vì đánh giá chất lượng chỉ qua thời lượng khóa học.
Đặc điểm công việc quyết định cấu trúc kỹ năng cần phát triển. Người tự sản xuất cần kết hợp kỹ thuật với quản lý chi phí, tổ chức công việc và giao dịch thị trường. Người chuyển sang việc làm hưởng lương phải đáp ứng yêu cầu về quy trình, thiết bị và phối hợp tại nơi làm việc. Do đó, cùng một nghề có thể cần những lộ trình học tập khác nhau. Sự phân hóa này đặt ra yêu cầu đánh giá năng lực ban đầu, thiết kế nội dung phù hợp và công nhận kết quả thực hành để người học có thể tích lũy, nâng cấp kỹ năng theo thời gian.
3.3. Động lực tài chính và trách nhiệm đối với kết quả sau đào tạo
Cách phân bổ kinh phí định hình động lực của đơn vị thực hiện. Khi kinh phí gắn chủ yếu với số người tuyển sinh và hoàn thành khóa học, cơ sở đào tạo có động lực bảo đảm đủ lớp nhưng ít chịu ràng buộc về kết quả sử dụng kỹ năng. Nếu chuyển toàn bộ rủi ro việc làm sang cơ sở đào tạo, cơ chế tài chính lại có thể khuyến khích lựa chọn người dễ đạt kết quả và hạn chế tiếp nhận nhóm cần nhiều hỗ trợ. Đổi mới tài chính vì thế phải đồng thời xử lý động lực nâng cao hiệu quả và trách nhiệm phục vụ nhóm yếu thế.
Kết quả sau đào tạo hình thành từ sự phối hợp của nhiều chủ thể. Năng lực nghề thuộc phạm vi trực tiếp của cơ sở đào tạo; kết nối tuyển dụng liên quan đến dịch vụ việc làm và doanh nghiệp; duy trì hoạt động tự làm còn phụ thuộc vào vốn và thị trường. Nếu trách nhiệm dừng ở từng dịch vụ riêng lẻ, người lao động phải tự gánh chi phí kết nối giữa các khâu. Một cơ chế quản lý hiệu quả cần xác định đầu mối điều phối, trách nhiệm chuyển tiếp hồ sơ và phương thức xử lý trường hợp người học chưa tiếp cận được công việc hoặc sinh kế phù hợp.
3.4. Công bằng tiếp cận và độ tin cậy của thông tin đánh giá
Báo cáo của Viện Khoa học Lao động và Xã hội cùng ILO, công bố năm 2024 trên cơ sở dữ liệu năm 2021 và khảo sát năm 2022, xác định trách nhiệm chăm sóc và khoảng cách kỹ năng là những trở ngại đối với lao động nữ phi chính thức tại Việt Nam. Kết quả này gợi mở những rào cản cần xem xét khi thiết kế hỗ trợ học nghề, dù không phản ánh riêng nhóm lao động nông thôn năm 2025. Chi phí tham gia bao gồm cả đi lại, thu nhập bị mất trong thời gian học và công việc chăm sóc cần được thay thế. Chỉ hỗ trợ học phí có thể chưa đủ để tạo cơ hội tiếp cận thực chất.
Độ tin cậy của đánh giá phụ thuộc vào cách xác định kết quả và thiết kế so sánh. Tổng quan của McKenzie (2017) ghi nhận nhiều đánh giá chương trình thị trường lao động ở các nước đang phát triển chưa tìm thấy tác động có ý nghĩa thống kê đối với việc làm hoặc thu nhập. Điều này cho thấy, sự cần thiết của việc phân biệt thay đổi được quan sát với thay đổi do chính sách tạo ra. Tỷ lệ có việc làm sau học nghề còn chịu ảnh hưởng của điều kiện kinh tế, kinh nghiệm sẵn có và đặc điểm người tham gia. Bên cạnh trạng thái có việc làm, đánh giá cần phản ánh mức sử dụng kỹ năng, thu nhập và điều kiện lao động.
4. Đổi mới chính sách phát triển kỹ năng theo kết quả việc làm
Thứ nhất, xây dựng kế hoạch đào tạo trên cơ sở cơ hội việc làm và sinh kế.
Kế hoạch phát triển kỹ năng cấp tỉnh cần được xây dựng từ thông tin về người lao động, nhu cầu sử dụng kỹ năng và triển vọng sản xuất tại địa bàn. Mỗi ngành nghề được đề xuất hỗ trợ phải làm rõ công việc dự kiến, yêu cầu năng lực, điều kiện tham gia và khả năng tổ chức đào tạo. Đối với nghề phục vụ tự làm, căn cứ đầu ra bao gồm phương án sản xuất, nhu cầu khách hàng và điều kiện tiêu thụ. Việc thẩm định được thực hiện trước khi quyết định quy mô lớp học, đồng thời cho phép điều chỉnh khi nhu cầu thị trường thay đổi.
Lộ trình hỗ trợ được phân hóa theo ba mục tiêu: nâng cao năng suất trong công việc hiện có, chuyển sang việc làm hưởng lương và tự tạo việc làm. Với mục tiêu nâng cao năng suất, nội dung học bắt đầu từ vấn đề kỹ thuật hoặc tổ chức sản xuất cần khắc phục. Với chuyển đổi việc làm, yêu cầu tuyển dụng và điều kiện tiếp cận nơi làm việc giữ vai trò quyết định. Với tự tạo việc làm, đánh giá kỹ năng đi cùng tính khả thi của phương án sinh kế. Phân loại theo mục tiêu giúp lựa chọn công cụ hỗ trợ phù hợp, đồng thời bảo đảm quyền lựa chọn nghề nghiệp của người lao động.
Thứ hai, tổ chức lộ trình học tập linh hoạt gắn với năng lực thực hành.
Chương trình đào tạo được tổ chức thành các mô-đun với chuẩn năng lực và cách đánh giá rõ ràng, tạo điều kiện để người học tích lũy theo nhu cầu công việc. Đánh giá đầu vào giúp xác định kỹ năng đã có và phần năng lực cần bổ sung, qua đó sử dụng hợp lý thời gian và kinh phí. Việc công nhận kết quả học tập phải phù hợp quy định áp dụng cho từng trình độ và dựa trên bằng chứng thực hành. Đối với người có kinh nghiệm sản xuất, khả năng thực hiện nhiệm vụ nghề là căn cứ quan trọng để thiết kế lộ trình nâng cao kỹ năng.
Doanh nghiệp, hợp tác xã và người sản xuất có kinh nghiệm tham gia xác định nhiệm vụ thực hành, hướng dẫn và phản hồi về năng lực người học. Nội dung bổ trợ được lựa chọn theo yêu cầu công việc, chẳng hạn ghi chép chi phí bằng công cụ số, kiểm tra thông tin truy xuất sản phẩm, sử dụng vật tư an toàn hoặc vận hành thiết bị tiết kiệm năng lượng. Mỗi nội dung cần được chuyển thành nhiệm vụ có thể thực hiện và đánh giá. Qua đó, kỹ năng số và kỹ năng phục vụ chuyển đổi xanh được tích hợp vào nghề nghiệp một cách cụ thể.
Thiết kế tổ chức đào tạo phải tính đến tính mùa vụ và trách nhiệm gia đình. Thời gian học linh hoạt, địa điểm thực hành thuận tiện và học liệu phù hợp giúp giảm chi phí tham gia. Công cụ số hỗ trợ hướng dẫn, ôn tập nhưng vẫn cần phương thức trực tiếp đối với người hạn chế về thiết bị hoặc năng lực sử dụng. Trong phạm vi nguồn lực và quy định áp dụng, dự toán chương trình cần tính đủ chi phí tiếp cận của nhóm khó khăn, bao gồm đi lại, hỗ trợ người khuyết tật và giải pháp giảm trở ngại chăm sóc.
Thứ ba, gắn tài chính với kết quả và bảo đảm công bằng trong lựa chọn người học.
Bài viết đề xuất thí điểm cơ chế tài chính kết hợp giữa kinh phí bảo đảm tổ chức đào tạo và khoản khuyến khích theo kết quả được xác minh. Phần kinh phí nền tảng duy trì điều kiện học tập và khả năng tiếp nhận nhóm khó khăn; phần khuyến khích tăng trách nhiệm đối với sử dụng kỹ năng và kết nối việc làm. Hồ sơ đặt hàng xác định đối tượng, chuẩn năng lực, nội dung thực hành, hỗ trợ sau đào tạo và nghĩa vụ cung cấp thông tin. Tỷ trọng từng phần được xác định theo chi phí, đặc điểm nghề và kết quả thí điểm, trong khuôn khổ pháp luật về ngân sách và đặt hàng dịch vụ công.
Cơ chế tài chính này phải có biện pháp hạn chế lựa chọn người dễ đạt kết quả. Mức hỗ trợ được cân nhắc theo chi phí phục vụ và mức độ bất lợi của người học; đánh giá cơ sở đào tạo kết hợp kết quả việc làm với mức bao phủ nhóm yếu thế. Dữ liệu tuyển sinh, bỏ học và hoàn thành được đối chiếu để nhận diện trường hợp loại bỏ người khó đạt chỉ tiêu. Công khai kết quả phải kèm thông tin về đặc điểm người học và thị trường tại địa bàn, tránh xếp hạng cơ học giữa các cơ sở có điều kiện thực hiện khác nhau.
Xác minh kết quả được tổ chức phù hợp từng hình thức việc làm. Với việc làm hưởng lương, thông tin của người học được đối chiếu với người sử dụng lao động. Với tự tạo việc làm, kiểm tra kết hợp hoạt động sản xuất thực tế, đơn hàng và ghi chép thu chi theo điều kiện của hộ. Thu nhập được xác định sau chi phí và xem xét cùng giờ làm, mùa vụ, biến động giá. Những trường hợp chỉ có xác nhận hình thức hoặc công việc không bảo đảm điều kiện an toàn phải được nhận diện trong kiểm tra chất lượng. Kết quả xác minh là căn cứ điều chỉnh hỗ trợ, đồng thời cung cấp thông tin để cải tiến chương trình.
Thứ tư, điều phối hỗ trợ sau đào tạo và xác lập trách nhiệm thực hiện.
Chính quyền cấp tỉnh xác định đầu mối điều phối trong cơ cấu hiện có, thống nhất quy trình kết nối đào tạo, dịch vụ việc làm và hỗ trợ sản xuất. Cơ sở đào tạo chịu trách nhiệm về năng lực nghề và tư vấn học tiếp; đơn vị dịch vụ việc làm phụ trách kết nối tuyển dụng và theo dõi kết quả giới thiệu; doanh nghiệp, hợp tác xã tham gia thực hành và phản hồi về mức đáp ứng kỹ năng. Ở cấp xã, rà soát nhu cầu và tiếp nhận phản ánh giúp phát hiện trở ngại của người học. Việc phân công cần gắn với thời hạn xử lý, sản phẩm công việc và chế độ trao đổi thông tin.
Hỗ trợ người tự tạo việc làm được thiết kế theo những điều kiện còn thiếu của phương án sinh kế. Tư vấn tín dụng đi cùng đánh giá dòng tiền và khả năng trả nợ; hỗ trợ thiết bị dựa trên nhu cầu sử dụng; kết nối thị trường gắn với chất lượng sản phẩm và yêu cầu giao dịch. Các dịch vụ được phối hợp theo lộ trình của người học, tránh cung cấp rời rạc hoặc trùng lặp. Người tham gia được thông tin đầy đủ về điều kiện thụ hưởng, nghĩa vụ tài chính và phạm vi cam kết của từng chủ thể, qua đó chủ động lựa chọn phương án phù hợp.
Thí điểm được triển khai tại một số nhóm nghề và địa bàn có điều kiện khác nhau để kiểm tra khả năng vận hành của cơ chế phối hợp. Giai đoạn chuẩn bị tập trung xây dựng dữ liệu ban đầu, quy trình theo dõi và tiêu chí xác minh kết quả. Sau một khoảng thời gian đủ phản ánh chu kỳ việc làm hoặc sản xuất, đánh giá xem xét đồng thời kết quả, chi phí và mức tiếp cận của nhóm yếu thế. Quyết định mở rộng dựa trên bằng chứng về khả năng thực hiện và điều kiện áp dụng, đồng thời cho phép điều chỉnh thiết kế cho địa bàn mới.
Thứ năm, chuẩn hóa dữ liệu và sử dụng kết quả đánh giá để điều chỉnh chính sách.
Theo dõi kết quả bắt đầu trước khi đào tạo, với thông tin về kỹ năng, việc làm và thu nhập ban đầu. Bài viết đề xuất các mốc theo dõi sáu tháng và mười hai tháng sau khóa học; thời điểm khảo sát được điều chỉnh theo tính mùa vụ và chu kỳ sản xuất. Các mốc này phục vụ quản lý thường xuyên, còn đánh giá lợi ích dài hạn đòi hỏi thời gian quan sát phù hợp hơn. Khung chỉ báo tại Bảng 1 được đề xuất để liên kết kết quả học tập, việc làm và hiệu quả sử dụng nguồn lực trong cùng một hệ thống theo dõi.
Bảng 1. Khung chỉ báo đề xuất theo dõi kết quả phát triển kỹ năng
| Nội dung | Chỉ báo theo dõi | Nguồn kiểm chứng |
| Tiếp cận và hoàn thành | Tỷ lệ tham gia, bỏ học, hoàn thành; kết quả theo giới và nhóm khó tiếp cận | Hồ sơ chương trình; phản hồi của người học |
| Vận dụng kỹ năng | Mức đạt chuẩn thực hành; mức sử dụng kỹ năng trong công việc | Bài thực hành; phản hồi tại nơi làm việc |
| Việc làm và sinh kế | Tình trạng việc làm; thời gian làm việc; mức duy trì hoạt động tự làm | Khảo sát sau đào tạo; đối chiếu tại doanh nghiệp hoặc cơ sở sản xuất |
| Thu nhập | Thu nhập ròng; thu nhập theo giờ; biến động theo mùa vụ | Thông tin thu chi, giờ làm; so sánh cùng mùa vụ |
| Chất lượng việc làm | An toàn lao động; tiếp cận bảo hiểm; điều kiện hợp đồng phù hợp | Phản hồi của người lao động; hồ sơ liên quan |
| Chi phí và công bằng | Chi phí trên kết quả được xác minh; chênh lệch tiếp cận và kết quả giữa nhóm | Quyết toán; dữ liệu theo dõi đã kiểm tra |
Mỗi chỉ báo cần thống nhất định nghĩa, mẫu số, thời điểm và nguồn thông tin. Tỷ lệ có việc làm được báo cáo cho cả nhóm tham gia ban đầu và nhóm hoàn thành, kèm tỷ lệ phản hồi và số người mất liên lạc. Thu nhập của người tự làm được phân biệt với doanh thu của hộ và đối chiếu theo cùng mùa vụ. Công bố kết quả phải phản ánh mức thiếu hụt thông tin để người sử dụng hiểu đúng phạm vi đánh giá. Việc thu thập, kết nối dữ liệu được giới hạn theo mục đích, bảo đảm căn cứ sử dụng, bảo mật và công bố ở dạng tổng hợp.
Đánh giá tác động cần bổ sung nhóm đối chiếu phù hợp khi điều kiện triển khai cho phép. Lựa chọn phương pháp dựa trên thiết kế chương trình, chất lượng dữ liệu và khả năng đáp ứng giả định nhận diện; so sánh trước và sau đơn thuần chưa tách được ảnh hưởng của đào tạo khỏi biến động thị trường. Với chương trình quy mô nhỏ, theo dõi cùng nhóm người học qua thời gian và phân tích trường hợp có giá trị phát hiện trở ngại thực hiện. Dù sử dụng phương pháp nào, kết quả đánh giá phải được chuyển thành quyết định cụ thể về nội dung đào tạo, mức hỗ trợ và việc tiếp tục hoặc điều chỉnh chương trình.
5. Kết luận
Phát triển kỹ năng cho lao động nông thôn tạo giá trị bền vững khi quá trình học tập được kết nối với cơ hội sử dụng năng lực và cải thiện chất lượng sinh kế. Khung phân tích của bài viết cho thấy hiệu quả chính sách phụ thuộc vào sự liên tục giữa tiếp cận đào tạo, hình thành kỹ năng, sử dụng kỹ năng và kết quả việc làm. Trên cơ sở đó, đổi mới quản lý tập trung vào xác định nhu cầu thực chất, điều phối hỗ trợ sau học nghề và gắn trách nhiệm của các chủ thể với kết quả có thể kiểm chứng.
Ưu tiên thực hiện là chuẩn hóa thông tin ban đầu, thống nhất chỉ báo theo dõi và thí điểm cơ chế tài chính kết hợp với bảo đảm công bằng tiếp cận. Việc nhân rộng dựa trên kết quả được xác minh, chi phí thực hiện và khả năng phục vụ nhóm lao động gặp bất lợi. Kiểm nghiệm khung đề xuất tại địa phương sẽ cung cấp căn cứ để điều chỉnh công cụ và phân bổ nguồn lực phù hợp, hướng tới nâng cao năng suất, thu nhập và khả năng thích ứng nghề nghiệp của lao động nông thôn.
Tài liệu tham khảo:
Ban Bí thư (2024). Chỉ thị số 37-CT/TW ngày 10/7/2024 về đổi mới công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn.
Cục Thống kê (2026). Thị trường lao động, việc làm của Việt Nam năm 2025: những điểm sáng và hạn chế. https://www.nso.gov.vn/du-lieu-va-so-lieu-thong-ke/2026/01/thi-truong-lao-dong-viec-lam-cua-viet-nam-nam-2025-nhung-diem-sang-va-han-che/
Thủ tướng Chính phủ (2026). Quyết định số 328/QĐ-TTg ngày 24/02/2026 phê duyệt Chương trình “Đổi mới, nâng cao chất lượng đào tạo nghề nông thôn đến năm 2030”.
Card, D., Kluve, J., & Weber, A. (2018). What Works? A Meta Analysis of Recent Active Labor Market Program Evaluations. Journal of the European Economic Association, 16(3), 894–931. https://doi.org/10.1093/jeea/jvx028
Carranza, E., & McKenzie, D. (2024). Job Training and Job Search Assistance Policies in Developing Countries. Journal of Economic Perspectives, 38(1), 221–244. https://doi.org/10.1257/jep.38.1.221
Institute of Labour Science and Social Affairs & International Labour Organization (2024). Informal employment in Viet Nam through a gender lens. https://www.ilo.org/publications/research-report-informal-employment-viet-nam-through-gender-lens
International Labour Organization (không ghi năm). Decent work and the 2030 Agenda for sustainable development. Truy cập ngày 21/9/2026. https://www.ilo.org/topics-and-sectors/decent-work-and-2030-agenda-sustainable-development
McKenzie, D. (2017). How Effective Are Active Labor Market Policies in Developing Countries? A Critical Review of Recent Evidence. The World Bank Research Observer, 32(2), 127–154. https://doi.org/10.1093/wbro/lkx001
World Bank, International Labour Organization, & UNESCO (2023). Building Better Formal TVET Systems: Principles and Practice in Low- and Middle-Income Countries. https://www.ilo.org/publications/building-better-formal-tvet-systems-principles-and-practice-low-and-middle
