Digital competency framework for cadres and civil servants in the two-tier local government model: theoretical foundations and a proposed national competency framework
TS. Hoàng Ngọc Hải
Học viện Hành chính và Quản trị công
Email: [email protected]
(Quanlynhanuoc.vn) – Bài viết nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn của việc xây dựng khung năng lực số cho cán bộ, công chức trong bối cảnh Việt Nam triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp và đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia. Bài viết hệ thống hóa các quan niệm về năng lực, khung năng lực, năng lực số; đồng thời tham chiếu kinh nghiệm quốc tế từ Liên minh châu Âu, Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế, Hàn Quốc, Xinh-ga-po và E-xtô-ni-a nhằm rút ra bài học cho Việt Nam; đồng thời, bài viết kiến nghị thể chế hóa khung năng lực số, tích hợp vào tiêu chuẩn vị trí việc làm, ưu tiên bồi dưỡng thực hành cho cấp xã và xây dựng thiết chế đào tạo số chuyên trách.
Từ khóa: Khung năng lực số; cán bộ, công chức; chính quyền địa phương hai cấp; chuyển đổi số khu vực công; năng lực công vụ số.
Abstract: This article examines the theoretical and practical foundations for developing a digital competency framework for officials and civil servants in the context of Vietnam’s implementation of a two-tier local government model and its push for national digital transformation. The article systematizes concepts related to competencies, competency frameworks, and digital competencies; it also draws on international experiences from the European Union, the Organization for Economic Cooperation and Development, South Korea, Singapore, and Estonia to draw lessons for Vietnam; furthermore, the paper recommends institutionalizing the digital competency framework, integrating it into job position standards, prioritizing practical training for commune-level officials, and establishing a dedicated digital training institution.
Keywords: Digital competence framework; cadres and civil servants; two-tier local government; public sector digital transformation; digital public service competence.
1. Đặt vấn đề
Việt Nam đang đồng thời thực hiện hai chuyển đổi lớn có tính bước ngoặt đối với nền hành chính. Một là, tổ chức lại chính quyền địa phương theo mô hình hai cấp, bỏ cấp huyện và phân quyền mạnh cho cấp xã. Hai là, đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia, coi khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là động lực phát triển hàng đầu. Hai chuyển đổi này đặt ra một yêu cầu chung và bức thiết: đội ngũ cán bộ, công chức phải có năng lực số đủ vững để vận hành nền hành chính mới trên môi trường số. Năng lực số của đội ngũ vì thế không còn là một kỹ năng phụ trợ mà trở thành điều kiện nền tảng để bộ máy mới vận hành thông suốt.
Tuy nhiên, cho đến nay Việt Nam vẫn chưa có một khung năng lực số quốc gia riêng, được phân tầng theo nhóm vị trí việc làm dành cho cán bộ, công chức. Đây chính là khoảng trống chính sách mà bài viết hướng tới giải quyết, từ việc làm rõ cơ sở lý luận, phân tích thực trạng đến đề xuất một khung năng lực số cụ thể, khả thi.
2. Mô hình chính quyền địa phương hai cấp và yêu cầu chuyển đổi số
Một là, mô hình chính quyền địa phương hai cấp.
Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2025 gồm 7 chương, 54 điều (Quốc hội, 2025a), xác lập mô hình hai cấp gồm cấp tỉnh và cấp xã, chính thức kết thúc cấp chính quyền địa phương ở cấp huyện. Trước đó, Nghị quyết số 76/2025/UBTVQH15 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về sắp xếp đơn vị hành chính năm 2025 (Ủy ban Thường vụ Quốc hội, 2025). đã đặt mục tiêu giảm khoảng 60 – 70% số đơn vị hành chính cấp xã.
Kết quả sắp xếp tạo nên một sự thay đổi quy mô lớn về tổ chức bộ máy. Theo Nghị quyết số 202/2025/QH15 (Quốc hội, 2025), cả nước còn 34 đơn vị hành chính cấp tỉnh, gồm 28 tỉnh và 6 thành phố trực thuộc trung ương. Cấp xã giảm từ 10.035 đơn vị xuống còn 3.321 đơn vị, gồm 2.621 xã, 687 phường và 12 đặc khu, chính thức hoạt động từ ngày 01/7/2025. Mức độ tinh giản này được thể hiện rõ qua Hình 1 dưới đây:
Hình 1. Kết quả sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh và cấp xã năm 2025

Cùng với việc tinh gọn đầu mối, Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2025 phân cấp mạnh cho cấp xã, kèm theo cơ chế phân cấp và ủy quyền từ Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, quy định cụ thể nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân theo từng lĩnh vực. Nghị định số 118/2025/NĐ-CP ngày 09/6/2025 của Thủ tướng Chính phủ quy định việc thành lập Trung tâm Phục vụ hành chính công cấp tỉnh và cấp xã, thực hiện thủ tục hành chính không phụ thuộc địa giới hành chính (Thủ tướng Chính phủ, 2025). Hệ quả trực tiếp là một khối lượng lớn nhiệm vụ trước đây thuộc cấp huyện nay được chuyển về cấp xã, trong khi việc giải quyết thủ tục đã chuyển hẳn lên môi trường số. Đội ngũ công chức cấp xã do đó phải đảm nhận thêm nhiều phần việc mới đòi hỏi năng lực số vững vàng.
Hai là, yêu cầu về chuyển đổi số.
Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị xác định phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số (Bộ Chính trị, 2024) là đột phá quan trọng hàng đầu, là động lực chính để đổi mới phương thức quản trị quốc gia. Nghị quyết đặt mục tiêu đến năm 2030, kinh tế số đạt tối thiểu 30% tổng sản phẩm trong nước, tỷ lệ dịch vụ công trực tuyến và giao dịch không dùng tiền mặt vượt 80%. Đáng chú ý, Nghị quyết yêu cầu triển khai sâu rộng phong trào học tập số, phổ cập và nâng cao kiến thức khoa học, công nghệ, kiến thức số trong cán bộ, công chức và người dân. Để cụ thể hóa, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 03/NQ-CP ngày 09/01/2025 (Chính phủ, 2025) với 7 nhóm nhiệm vụ và 14 chỉ tiêu. Như vậy, yêu cầu nâng cao năng lực số cho đội ngũ đã được đặt ra ở tầm chủ trương lớn của Đảng, tạo căn cứ chính trị vững chắc cho việc xây dựng khung năng lực số.
Ba là, hệ thống chính sách về kỹ năng số cho cán bộ, công chức.
Thời gian qua, hệ thống văn bản về kỹ năng số cho đội ngũ đã hình thành khá nhanh nhưng còn phân tán ở nhiều cấp độ và đối tượng khác nhau. Có thể khái quát các văn bản trụ cột, như sau:
Luật Cán bộ, công chức năm 2025, có hiệu lực từ ngày 01/7/2025 (Quốc hội, 2025b), chuyển hẳn sang quản lý theo vị trí việc làm, lấy vị trí việc làm làm trung tâm, phân vị trí việc làm thành 3 nhóm, gồm: lãnh đạo, quản lý; chuyên môn, nghiệp vụ; hỗ trợ, phục vụ. Luật bổ sung nghĩa vụ ứng dụng khoa học, công nghệ của cán bộ, công chức trong thực thi công vụ và đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số trong đánh giá công chức. Việc quản lý theo vị trí việc làm đã mở ra dư địa pháp lý quan trọng để gắn yêu cầu năng lực số với từng vị trí cụ thể.
Quyết định số 749/QĐ-TTg ngày 03/6/2020 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 (Thủ tướng Chính phủ, 2020), với 3 trụ cột là chính phủ số, kinh tế số và xã hội số. Văn bản đặt mục tiêu đến năm 2025 có 60% hồ sơ công việc cấp xã được xử lý trên môi trường mạng.
Quyết định số 757/QĐ-BKHCN ngày 29/4/2025 của Bộ Khoa học và Công nghệ ban hành Khung kiến thức, kỹ năng số cơ bản phiên bản 1.0 cùng hướng dẫn đánh giá mức độ phổ cập kỹ năng số (Bộ Khoa học và Công nghệ, 2025). Phần kỹ năng gồm 6 nhóm: (1) sử dụng thiết bị và phần mềm số; (2) khai thác thông tin và dữ liệu; (3) giao tiếp và hợp tác trên môi trường số; (4) sáng tạo nội dung số; (5) bảo đảm an toàn, an ninh mạng; (6) giải quyết vấn đề bằng công nghệ số. Khung được tùy chỉnh cho 4 nhóm đối tượng và có phần riêng dành cho cán bộ, công chức, viên chức trong cơ quan nhà nước, với mục tiêu năm 2025 đạt 80% và năm 2026 đạt 100% đội ngũ có kiến thức, kỹ năng số.
Thông tư số 02/2025/TT-BGDĐT ngày 24/01/2025 của Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Khung năng lực số cho người học gồm 6 miền năng lực, 24 năng lực thành phần, 4 trình độ tương ứng 8 bậc, tham chiếu khung năng lực số châu Âu và bổ sung miền ứng dụng trí tuệ nhân tạo (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2025). Tuy nhiên, đây là khung dành cho người học trong hệ thống giáo dục, không phải cho công chức thực thi công vụ.
Phong trào bình dân học vụ số được Thủ tướng Chính phủ phát động ngày 26/3/2025. Nền tảng học tập trực tuyến phục vụ phong trào vận hành toàn quốc từ ngày 01/4/2025, có khả năng đáp ứng hàng trăm nghìn người học cùng lúc với khoảng 30.000 khóa học và được tích hợp với ứng dụng định danh điện tử. Đây là hạ tầng bồi dưỡng số quan trọng có thể tận dụng để phổ cập năng lực số cho đội ngũ ở quy mô lớn.
Chỉ thị số 14/CT-TTg ngày 22/4/2026 của Thủ tướng Chính phủ về đẩy mạnh bồi dưỡng và đánh giá kiến thức, kỹ năng số đối với cán bộ, công chức, viên chức đặt mục tiêu đến hết năm 2026, 100% đội ngũ có hiểu biết về chuyển đổi số và sử dụng tốt các nền tảng, dịch vụ số (Thủ tướng Chính phủ, 2026), áp dụng khung tại Quyết định số 757/QĐ-BKHCN ngày 29/4/2025 của Bộ Khoa học và Công nghệ làm chuẩn đánh giá.
Nhìn tổng thể, hệ thống chính sách hiện hành đã phủ khá rộng nhưng tồn tại một điểm hụt rõ rệt: các văn bản hoặc dừng ở mức phổ cập, cơ bản, hoặc dành cho người học, mà chưa có khung năng lực số nào được thiết kế riêng cho công chức, phân tầng theo ba nhóm lãnh đạo, chuyên môn cấp tỉnh và cấp xã.
3. Kinh nghiệm quốc tế
Nhiều quốc gia đi trước đã xây dựng khung năng lực số và thiết chế đào tạo số cho khu vực công. Việc tham khảo có chọn lọc các mô hình này giúp Việt Nam rút ngắn thời gian và tránh những bước thử nghiệm tốn kém (xem Bảng 1).
Bảng 1. Tổng hợp kinh nghiệm quốc tế về khung năng lực số và đào tạo số cho khu vực công
| Quốc gia/ tổ chức | Mô hình và đặc điểm | Bài học với Việt Nam |
| Liên minh châu Âu | Khung năng lực số cho công dân do Trung tâm Nghiên cứu chung của Ủy ban châu Âu phát triển, gồm năm lĩnh vực và hai mươi mốt năng lực thành phần, sử dụng tám bậc thành thạo chia thành bốn nhóm. | Khung tham chiếu trực tiếp về cấu trúc miền năng lực và thang bậc cho cả Thông tư số 02/2025/BGDĐT và Quyết định số 757/QĐ-BKHCN. |
| Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế | Khung tài năng và kỹ năng số cho khu vực công với ba trụ cột: tạo môi trường làm việc phù hợp, bảo đảm kỹ năng phù hợp, phát triển và duy trì lực lượng lao động phù hợp. | Cách tiếp cận hệ thống, giúp chuyển từ chính phủ điện tử sang chính phủ số và tạo ngôn ngữ chung giữa các cơ quan. |
| Hàn Quốc | Dẫn đầu Chỉ số Chính phủ số của Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế năm 2023 với điểm số tổng hợp 0,935, có các cơ quan kỹ thuật chuyên trách và nền tảng dữ liệu, trí tuệ nhân tạo dùng chung. | Cần thiết chế chuyên trách và nền tảng dữ liệu dùng chung làm chỗ dựa kỹ thuật cho chính quyền hai cấp. |
| Singapo | Cơ quan công nghệ chính phủ điều phối chuyển đổi số toàn chính phủ; lập học viện số chuyên biệt để nâng kỹ năng cho công vụ và bộ chỉ số hài lòng minh bạch. | Triết lý nghĩ lớn, bắt đầu nhỏ, hành động nhanh cùng một học viện số chuyên trách và bộ chỉ số dịch vụ rõ ràng. |
| Estonia | Học viện quản trị số đào tạo công chức; gần như toàn bộ dịch vụ công trực tuyến qua nền tảng trao đổi dữ liệu liên thông. | Nền tảng dữ liệu liên thông kết hợp đào tạo công chức là cốt lõi, phù hợp yêu cầu liên thông tỉnh và xã. |
Vị trí dẫn đầu của Hàn Quốc về chính phủ số được thể hiện rõ khi so sánh với mặt bằng chung của Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế, như minh họa ở Hình 2. Khoảng cách giữa quốc gia dẫn đầu và mức trung bình cho thấy vai trò quyết định của thể chế chuyên trách, hạ tầng dữ liệu và đầu tư dài hạn cho kỹ năng số của đội ngũ.
Hình 2. Chỉ số Chính phủ số của Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế năm 2023

Từ 5 trường hợp trên, có thể rút ra 3 bài học cốt lõi cho Việt Nam. Một là, cần một khung năng lực số chuyên biệt cho khu vực công, vừa tham chiếu chuẩn quốc tế vừa bám sát đặc thù công vụ trong nước. Hai là, cần một thiết chế đào tạo số chuyên trách đóng vai trò đầu mối bồi dưỡng, cập nhật kỹ năng cho đội ngũ. Ba là, cần một nền tảng dữ liệu liên thông giữa các cấp để năng lực số của con người được phát huy trên một hạ tầng kỹ thuật đồng bộ.
4. Thực trạng và khoảng trống chính sách ở Việt Nam
Khoảng trống lớn nhất hiện nay là Việt Nam chưa có một khung năng lực số quốc gia chuyên biệt, phân tầng cho cán bộ, công chức gắn với vị trí việc làm. Các văn bản hiện hành hoặc dừng ở mức cơ bản, phổ cập như Quyết định số 757/QĐ-BKHCN, hoặc dành cho người học trong hệ thống giáo dục, như: Thông tư số 02/2025/TT-BGDĐT, mà chưa phân tầng theo 3 nhóm lãnh đạo, chuyên môn cấp tỉnh và cấp xã. Trong khi đó, Luật Cán bộ, công chức năm 2025 đã đặt nền tảng quản lý theo vị trí việc làm, tạo dư địa pháp lý thuận lợi để xây dựng khung năng lực số gắn với từng vị trí. Nói cách khác, điều kiện pháp lý đã chín muồi, vấn đề còn lại là thiết kế và ban hành một khung năng lực số phù hợp.
Thực trạng năng lực số của đội ngũ hiện nay đan xen cả mặt tích cực và hạn chế. Về mặt hạn chế, nhiều đánh giá cho thấy, nguồn nhân lực số còn mỏng, chưa đáp ứng nhu cầu cả về số lượng và chất lượng, đặc biệt ở cấp cơ sở; kỹ năng số của không ít công chức còn yếu do chưa thật sự hiểu rõ các hệ thống thông tin đang vận hành. Về mặt tích cực, ở những địa bàn có sự chỉ đạo quyết liệt và hạ tầng tốt, kết quả vận hành nền hành chính số khá ấn tượng, với tỷ lệ hồ sơ giải quyết đúng hạn và tỷ lệ hồ sơ trực tuyến đạt mức cao, toàn bộ văn bản được trao đổi dưới dạng điện tử. Tuy vậy, ngay tại các địa bàn này, năng lực của đội ngũ vẫn chưa đồng đều, đòi hỏi tiếp tục bồi dưỡng và chuẩn hóa.
Sau sắp xếp, cấp xã là nơi bộc lộ rõ nhất khoảng cách giữa yêu cầu nhiệm vụ và năng lực hiện có. Khảo sát của cơ quan quản lý tại nhiều địa phương ghi nhận tình trạng thiếu nhân lực công nghệ thông tin và chuyển đổi số, nhất là ở vùng sâu, vùng xa; một số nơi còn gặp khó khăn về sóng viễn thông, thiết bị lạc hậu và việc kết nối dữ liệu với hệ thống dịch vụ công chưa thông suốt. Để khắc phục bước đầu, các doanh nghiệp viễn thông và bưu chính đã điều động hàng nghìn kỹ sư, nhân viên về hỗ trợ trực tiếp tại các xã, phường. Việc hợp nhất điểm truy cập dịch vụ công về một cổng thống nhất từ ngày 01/7/2025 cũng đặt ra yêu cầu mới về kỹ năng vận hành cho công chức cấp xã (xem Bảng 2).
Bảng 2. Các nhóm thách thức ở cấp xã sau sắp xếp và hệ quả đối với yêu cầu năng lực số
| Nhóm thách thức | Biểu hiện cụ thể | Hệ quả đối với yêu cầu năng lực số |
| Nhân lực | Thiếu công chức chuyên trách công nghệ thông tin và chuyển đổi số ở cấp xã, nhất là vùng sâu, vùng xa. | Cần ưu tiên bồi dưỡng thực hành và bố trí ít nhất một vị trí chuyên trách cho mỗi xã. |
| Hạ tầng | Một số địa bàn còn khó khăn về sóng viễn thông, thiết bị lạc hậu, kết nối dữ liệu chưa ổn định. | Năng lực số chỉ phát huy khi hạ tầng đủ điều kiện; cần đầu tư hạ tầng trước khi đặt chỉ tiêu cao. |
| Quy trình và dữ liệu | Hợp nhất về một cổng dịch vụ công; hệ thống dữ liệu chưa đồng bộ và toàn diện. | Công chức cấp xã cần thành thạo quy trình mới và kỹ năng số hóa, liên thông hồ sơ. |
| Nhiệm vụ mới | Cấp xã tiếp nhận nhiều nhiệm vụ chuyển từ cấp huyện cũ và giải quyết thủ tục không phụ thuộc địa giới. | Yêu cầu năng lực thực thi số vững và khả năng hướng dẫn người dân sử dụng dịch vụ số. |
Từ thực trạng trên, có thể thấy, điểm nghẽn không chỉ nằm ở kỹ năng cá nhân của công chức mà còn ở sự thiếu đồng bộ giữa con người, hạ tầng và dữ liệu. Một khung năng lực số phân tầng, nếu được ban hành và gắn với chính sách đầu tư hạ tầng hợp lý, sẽ là công cụ để tháo gỡ điểm nghẽn này một cách có hệ thống.
5. Đề xuất khung năng lực số quốc gia cho cán bộ, công chức Việt Nam
Thứ nhất, theo khung năng lực số và miền năng lực.
Khung năng lực số đề xuất được xây dựng trên 5 nguyên tắc: (1) Tham chiếu khung năng lực số châu Âu và khung 3 trụ cột của Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế để bảo đảm tính hội nhập. (2) Kế thừa Quyết định số 757/QĐ-BKHCN và Thông tư số 02/2025/TT-BGDĐT để bảo đảm tính liên thông trong nước. (3) Bổ sung một miền năng lực công vụ số đặc thù nhằm phản ánh đúng tính chất hoạt động công vụ. (4) Gắn chặt với vị trí việc làm theo Luật Cán bộ, công chức năm 2025. (5) Phân tầng theo 3 nhóm đối tượng để bảo đảm tính khả thi và phù hợp với năng lực thực tế của từng nhóm.
Với cấu trúc 7 miền năng lực, trong đó 6 miền đầu kế thừa và phát triển từ các khung hiện hành, miền thứ 7 được bổ sung để phản ánh đặc thù công vụ:
(1) Năng lực vận hành thiết bị, nền tảng số và dữ liệu công vụ là việc sử dụng thành thạo máy tính, thiết bị di động, phần mềm công vụ, hệ thống quản lý văn bản, cổng dịch vụ công, nền tảng họp trực tuyến và các cơ sở dữ liệu phục vụ hoạt động hành chính nhà nước.
(2) Năng lực khai thác thông tin và dữ liệu là tìm kiếm, tiếp cận, đánh giá, phân tích và sử dụng thông tin, dữ liệu một cách chính xác, có chọn lọc, phục vụ tham mưu, xử lý công việc và hỗ trợ ra quyết định trong thực thi công vụ.
(3) Năng lực giao tiếp, hợp tác và cung cấp dịch vụ công trực tuyến là khả năng tương tác, trao đổi, phối hợp làm việc trên môi trường số; đồng thời biết hướng dẫn, hỗ trợ người dân, doanh nghiệp sử dụng dịch vụ công trực tuyến thuận tiện, minh bạch và hiệu quả.
(4) Năng lực sáng tạo nội dung số và tái cấu trúc quy trình thủ tục hành chính là năng lực xây dựng, biên tập, số hóa nội dung công vụ; đồng thời tham gia cải tiến, đơn giản hóa, tái thiết kế quy trình xử lý thủ tục hành chính theo hướng số hóa, liên thông và lấy người dùng làm trung tâm.
(5) Năng lực an toàn, an ninh mạng và bảo vệ dữ liệu cá nhân là năng lực nhận diện rủi ro, phòng tránh nguy cơ mất an toàn thông tin, bảo vệ tài khoản, dữ liệu công vụ và dữ liệu cá nhân; tuân thủ các quy định về bảo mật, an ninh mạng trong hoạt động công vụ.
(6) Năng lực giải quyết vấn đề và đổi mới sáng tạo số bao gồm năng lực sử dụng trí tuệ nhân tạo là năng lực ứng dụng công nghệ số, công cụ phân tích dữ liệu và trí tuệ nhân tạo để phát hiện vấn đề, đề xuất giải pháp, cải tiến phương thức làm việc, nâng cao hiệu quả quản lý và chất lượng phục vụ.
(7) Năng lực công vụ số đặc thù bao gồm đạo đức số, văn hóa số, tuân thủ pháp luật số và trách nhiệm giải trình trên môi trường số là nhóm năng lực gắn trực tiếp với vai trò của cán bộ, công chức trong môi trường số, bao gồm đạo đức số, văn hóa số, tuân thủ pháp luật số, trách nhiệm giải trình, minh bạch và chuẩn mực ứng xử khi thực thi công vụ trên không gian số.
Mỗi miền được đo theo 4 trình độ tương ứng 8 bậc, từ cơ bản đến chuyên sâu. Cấu trúc tổng thể và cách phân tầng được thể hiện ở Hình 3.
Hình 3. Cấu trúc khung năng lực số quốc gia đề xuất cho cán bộ, công chức

Thứ hai, phân tầng theo ba nhóm đối tượng.
Việc phân tầng phản ánh đúng vai trò và đặc thù nhiệm vụ của từng nhóm trong mô hình hai cấp. Cấp xã được phân quyền nhiều nhiệm vụ mới nên cần năng lực thực thi số vững; cấp tỉnh giữ vai trò điều phối, hỗ trợ kỹ thuật và xử lý chuyên sâu; đội ngũ lãnh đạo dẫn dắt chiến lược chuyển đổi số (xem Bảng 3).
Bảng 3. Phân tầng khung năng lực số theo ba nhóm đối tượng
| Nhóm đối tượng | Trọng tâm năng lực | Bậc mục tiêu |
| Cán bộ lãnh đạo, quản lý | Lãnh đạo số: tầm nhìn và tư duy chiến lược chuyển đổi số, ra quyết định dựa trên dữ liệu, quản trị thay đổi, dẫn dắt văn hóa số và bảo đảm an ninh dữ liệu ở cấp tổ chức. | Nâng cao đến chuyên sâu, bậc 5 đến 8 ở miền 6 và miền 7 |
| Công chức chuyên môn cấp tỉnh | Chuyên môn số: phân tích và liên thông dữ liệu chuyên ngành, vận hành hệ thống thông tin chuyên ngành, bảo đảm an toàn thông tin và hỗ trợ kỹ thuật cho cấp xã. | Trung cấp đến nâng cao, bậc 3 đến 6 |
| Công chức cấp xã, phường | Thực thi số: vận hành cổng dịch vụ công, số hóa hồ sơ, hướng dẫn người dân sử dụng định danh điện tử, xử lý thủ tục không phụ thuộc địa giới hành chính. | Cơ bản vững chắc đến trung cấp, bậc 2 đến 4, ưu tiên thực hành |
Cách phân tầng này bảo đảm nguyên tắc phù hợp và khả thi: không đặt ra yêu cầu quá cao đồng loạt, mà tập trung nguồn lực bồi dưỡng vào nhóm và miền năng lực thiết yếu nhất đối với từng vị trí. Đặc biệt, việc ưu tiên năng lực thực thi số cho cấp xã đáp ứng đúng nhu cầu cấp bách của địa bàn đang chịu áp lực nhiệm vụ lớn nhất sau sắp xếp.
6. Một số giải pháp trọng tâm
Để khung năng lực số đi vào thực tiễn, bài viết đề xuất hệ giải pháp theo 3 giai đoạn, kèm theo cơ chế theo dõi và điều chỉnh chính sách. Lộ trình tổng thể được khái quát ở Hình 4.
Hình 4. Lộ trình triển khai khung năng lực số cho cán bộ, công chức

Giai đoạn 1, từ năm 2026 – 2027, tập trung thể chế hóa với các nhiệm vụ:
- Ban hành khung năng lực số quốc gia cho cán bộ, công chức do Bộ Nội vụ chủ trì, phối hợp với Bộ Khoa học và Công nghệ, nâng cấp từ Quyết định số 757/QĐ-BKHCN thành khung phân tầng theo ba nhóm gắn với vị trí việc làm, lấy căn cứ từ Luật Cán bộ, công chức năm 2025 và sử dụng cấu trúc bảy miền, tám bậc làm tham chiếu.
- Tích hợp năng lực số vào tiêu chuẩn ngạch, bản mô tả vị trí việc làm và quy trình đánh giá, bổ sung tiêu chí năng lực số vào tuyển dụng, đánh giá kết quả công việc và công tác quy hoạch, bổ nhiệm để tạo động lực học tập thường xuyên.
Giai đoạn 2, từ năm 2026 – 2028, triển khai và ưu tiên cấp xã.
- Ưu tiên tuyệt đối cho cấp xã thông qua chương trình bồi dưỡng thực hành trên nền tảng học tập số quốc gia; bố trí ít nhất một vị trí việc làm chuyên trách công nghệ thông tin và chuyển đổi số cho mỗi xã; đầu tư hạ tầng tại các địa bàn còn khó khăn về sóng viễn thông trước khi yêu cầu chỉ tiêu dịch vụ công trực tuyến cao.
- Lập thiết chế đào tạo số chuyên trách tại Học viện Hành chính và Quản trị công, tham khảo mô hình học viện số của Xinh-ga-po và học viện quản trị số của E-xtô-ni-a, gắn với nền tảng dữ liệu liên thông giữa cấp tỉnh và cấp xã.
Cơ chế theo dõi và điều chỉnh chính sách.
- Thiết lập ngưỡng theo dõi và phương án điều chỉnh. Nếu đến hết năm 2026, mục tiêu một trăm phần trăm đội ngũ đạt kỹ năng số cơ bản theo Chỉ thị số 14/CT-TTg chưa đạt ở cấp xã, nhất là vùng sâu, vùng xa, cần kéo dài cơ chế doanh nghiệp viễn thông cử kỹ sư thường trực tại xã, tăng ngân sách đầu tư hạ tầng số cấp xã và lùi mốc áp dụng các chỉ tiêu dịch vụ công trực tuyến toàn trình cho nhóm xã khó khăn. Hai chỉ số cần theo dõi là tỷ lệ hồ sơ trực tuyến và tỷ lệ số hóa hồ sơ tại cấp xã.
Hệ giải pháp trên bảo đảm tính khả thi nhờ 3 đặc điểm: có thứ tự ưu tiên rõ ràng, đặt cấp xã làm trọng tâm vì đây là nơi chịu áp lực lớn nhất; có thiết chế thực hiện cụ thể thay vì chỉ dừng ở chủ trương và có cơ chế đo lường, điều chỉnh linh hoạt thay vì áp đặt một mốc cứng cho mọi địa bàn.
7. Kết luận
Mô hình chính quyền địa phương hai cấp cùng yêu cầu chuyển đổi số quốc gia đặt năng lực số của cán bộ, công chức vào vị trí trung tâm của quá trình cải cách nền hành chính. Hệ thống chính sách hiện hành tuy đã phủ rộng nhưng còn thiếu một khung năng lực số chuyên biệt, phân tầng theo vị trí việc làm, trong khi nền tảng pháp lý cho việc xây dựng khung đã được Luật Cán bộ, công chức năm 2025 tạo lập. Trên cơ sở tham chiếu kinh nghiệm quốc tế và phân tích thực trạng trong nước, bài viết đề xuất khung năng lực số quốc gia gồm 7 miền và 4 trình độ tương ứng 8 bậc, phân tầng cho 3 nhóm đối tượng, kèm theo lộ trình và hệ giải pháp lấy cấp xã làm trọng tâm. Việc thể chế hóa khung này, gắn với đầu tư hạ tầng và xây dựng thiết chế đào tạo số chuyên trách, sẽ góp phần bảo đảm cho bộ máy hành chính mới vận hành thông suốt và hiệu quả trên môi trường số.
Cần lưu ý rằng cấu trúc 7 miền và bậc năng lực cho từng nhóm trong bài viết là gợi ý có tính học thuật; để áp dụng chính thức, cần tiến hành khảo sát thực địa, nhất là tại cấp xã sau sắp xếp, nhằm hiệu chỉnh cho phù hợp với điều kiện thực tế. Các số liệu vận hành được dẫn trong bài là kết quả bước đầu do cơ quan nhà nước công bố và có thể thay đổi, vì vậy khi sử dụng cần đối chiếu với báo cáo chính thức cập nhật của các bộ, ngành liên quan.
Tài liệu tham khảo:
Bộ Chính trị (2024). Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
Bộ Khoa học và Công nghệ (2025). Quyết định số 757/QĐ-BKHCN ngày 29/4/2025 ban hành Khung kiến thức, kỹ năng số cơ bản và Hướng dẫn đánh giá, xác nhận hoàn thành mức độ phổ cập kỹ năng số.
Bộ Giáo dục và Đào tạo (2025). Thông tư số 02/2025/TT-BGDĐT ngày 24/01/2025 quy định Khung năng lực số cho người học.
Chính phủ (2025). Nghị quyết số 03/NQ-CP ngày 09/01/2025 ban hành Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW.
Chính phủ (2025). Nghị định số 118/2025/NĐ-CP ngày 09/6/2025 về thực hiện thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông và Cổng Dịch vụ công quốc gia.
Quốc hội (2025a). Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2025.
Quốc hội (2025b). Luật Cán bộ, công chức năm 2025.
Quốc hội (2025). Nghị quyết số 202/2025/QH15 ngày 12/6/2025 về sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh năm 2025.
Thủ tướng Chính phủ (2020). Quyết định số 749/QĐ-TTg ngày 03/6/2020 phê duyệt Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030.
Thủ tướng Chính phủ (2026). Chỉ thị số 14/CT-TTg ngày 22/4/2026 về đẩy mạnh bồi dưỡng và đánh giá kiến thức, kỹ năng số đối với cán bộ, công chức, viên chức.
Ủy ban Thường vụ Quốc hội (2025). Nghị quyết số 76/2025/UBTVQH15 ngày 14/4/2025 về sắp xếp đơn vị hành chính năm 2025.
