Vietnam’s future: new drivers of growth
PGS.TS. Nguyễn Thị Ngọc Hoa
Học viện Báo chí và Tuyên truyền
Email: [email protected]
(Quanlynhanuoc.vn) – 40 năm đổi mới đã chứng minh sức mạnh của việc giải phóng sản xuất, huy động vốn, mở cửa thị trường và đưa lao động Việt Nam vào mạng lưới sản xuất toàn cầu. Nhưng thành công của chặng đường trước không bảo đảm thành công của chặng đường sau. Khi dư địa tăng trưởng dựa vào khai thác đất đai, gia tăng vốn, lao động giá rẻ và gia công thu hẹp, Việt Nam chỉ có thể tiến tới mục tiêu năm 2045 bằng một mô hình phát triển dựa trên năng suất, tri thức, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, thể chế hiện đại và sức sáng tạo của con người.
Từ khóa: 40 năm Đổi mới; động lực tăng trưởng mới; giải phóng sản xuất; huy động vốn; mở cửa thị trường.
Abstract: Forty years of reform have demonstrated the power of liberating production, mobilizing capital, opening markets, and integrating the Vietnamese workforce into the global production network. However, success in the past does not guarantee success in the future. As the room for growth based on land exploitation, capital expansion, cheap labor, and contract manufacturing narrows, Vietnam can only advance toward its 2045 goals through a development model grounded in productivity, knowledge, science, technology, innovation, modern institutions, and human creativity.
Keywords: 40 years of Doi Moi; new growth drivers; unleashing production, mobilizing capital, opening markets.
1. Dư địa tăng trưởng phát triển của Việt Nam
Năm 1989, Việt Nam xuất khẩu 1,4 triệu tấn gạo, đánh dấu bước ngoặt từ thiếu lương thực sang có hàng hóa để bán ra thế giới (Trần Thanh Giang, 2026). Ba thập niên sau, tại các cảng biển Việt Nam, gạo đứng bên điện thoại, máy tính, dệt may, giày dép và máy móc trong dòng hàng hóa toàn cầu. Câu hỏi của phát triển vì thế đã thay đổi: không còn chỉ là sản xuất được bao nhiêu và xuất khẩu được bao nhiêu mà là nền kinh tế giữ lại được bao nhiêu giá trị, làm chủ được bao nhiêu công nghệ và tạo ra bao nhiêu việc làm có năng suất cao.
Sự chuyển đổi về quy mô là rất lớn. Giai đoạn 2021-2025, tăng trưởng GDP bình quân đạt khoảng 6,2%/năm; riêng năm 2025 tăng 8,02%, quy mô GDP đạt trên 514 tỷ USD và GDP bình quân đầu người đạt 5.026 USD (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026). Đó là nền tảng quan trọng để đất nước bước vào một giai đoạn phát triển mới. Nhưng quy mô lớn hơn cũng làm lộ rõ một quy luật: càng tiến gần ngưỡng thu nhập cao, tăng trưởng càng không thể tiếp tục dựa chủ yếu vào việc đưa thêm vốn, đất đai, tài nguyên và lao động giản đơn vào sản xuất.
Nếu năm 1986, nút thắt lớn nhất là cơ chế không giải phóng được sức sản xuất thì năm 2026, thách thức trung tâm là nâng sức sản xuất lên một trình độ mới. Tăng trưởng nhanh vẫn cần thiết, nhưng tốc độ phải đi cùng chất lượng; mở rộng xuất khẩu phải đi cùng tỷ lệ giá trị trong nước; thu hút đầu tư phải đi cùng chuyển giao công nghệ; tạo việc làm phải đi cùng nâng kỹ năng và thu nhập. Bài toán không còn là lựa chọn giữa tăng trưởng và chất lượng mà là làm thế nào để chất lượng trở thành nguồn gốc bền vững của tăng trưởng.
Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XIII) tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng thẳng thắn chỉ rõ: “Năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế còn thấp; tốc độ tăng năng suất lao động bình quân 5 năm đạt 5,3%, thấp hơn mục tiêu đề ra, hệ số sử dụng vốn (ICOR) vẫn còn cao (6,4). Đổi mới mô hình tăng trưởng gắn với cơ cấu lại nền kinh tế còn chậm” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026). Báo cáo tổng kết một số vấn đề lý luận và thực tiễn về công cuộc đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa trong 40 năm qua ở Việt Nam cũng cảnh báo nguy cơ tụt hậu, nguy cơ rơi vào bẫy thu nhập trung bình, cùng hạn chế về sức chống chịu và năng lực tự chủ chiến lược của nền kinh tế. Những chỉ báo này cho thấy, tăng trưởng vẫn cần một lượng vốn lớn, trong khi hiệu quả chuyển hóa nguồn lực thành giá trị gia tăng chưa tương xứng.
Công nghiệp chế biến, chế tạo đã trở thành trụ cột, nhưng phần lớn vẫn phát triển theo chiều rộng. Phụ lục 4 về đánh giá 5 năm thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội 10 năm 2021-2030 nhận định khâu gia công, lắp ráp, chế biến thô còn chiếm tỷ trọng lớn; giá trị gia tăng thấp; công nghiệp nền tảng, công nghiệp hỗ trợ và khả năng làm chủ công nghệ nguồn phát triển chậm; liên kết giữa doanh nghiệp đầu tư trực tiếp nước ngoài với doanh nghiệp trong nước còn yếu (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026). Một nền kinh tế có thể xuất khẩu nhiều nhưng vẫn đứng ở vị trí thấp trong chuỗi giá trị nếu thiết kế, công nghệ, thương hiệu, dịch vụ và mạng lưới phân phối chủ yếu thuộc về bên ngoài.
Ngân hàng Thế giới (WB, 2024) ước tính khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chiếm khoảng 73% kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam; tỷ lệ doanh nghiệp trong nước tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu giảm từ 35% năm 2009 xuống 18% năm 2023. Dịch vụ chỉ chiếm khoảng 12% tổng kim ngạch xuất khẩu và khoảng 7% giá trị xuất khẩu hàng chế tạo. Những con số ấy không phủ nhận thành công của hội nhập; ngược lại, chúng chỉ ra nhiệm vụ tiếp theo của hội nhập: chuyển từ có mặt trong chuỗi giá trị sang giữ vị trí có giá trị cao hơn trong chuỗi.
Điểm nghẽn vì thế không nằm ở một ngành riêng lẻ. Đó là khoảng cách giữa một khu vực xuất khẩu hiện đại với mạng lưới doanh nghiệp nội địa còn mỏng; giữa khả năng tiếp nhận công nghệ với năng lực tự nghiên cứu và làm chủ; giữa nguồn vốn huy động được với chất lượng phân bổ vốn; giữa số lượng dự án với hiệu quả lan tỏa. Nếu những khoảng cách này không được thu hẹp, quy mô lớn có thể không chuyển hóa thành năng lực tự chủ và sức cạnh tranh dài hạn.
2. Nhận diện giới hạn của động lực tăng trưởng
Giới hạn thứ nhất là chất lượng nguồn nhân lực. Mô hình dựa vào lao động dồi dào, chi phí thấp từng tạo hàng triệu việc làm và giúp Việt Nam tham gia nhanh vào sản xuất toàn cầu. Theo WB (2024), chỉ khoảng 5% lao động trong công nghiệp chế tạo được xếp vào nhóm kỹ năng cao và khoảng 10% dân số có bằng đại học. Khi tự động hóa và trí tuệ nhân tạo thay thế những công việc lặp lại, lợi thế chi phí thấp có thể mất nhanh hơn tốc độ người lao động được trang bị kỹ năng mới.
Số liệu trong nước cũng đặt ra yêu cầu cấp bách. 6 tháng đầu năm 2026, tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng, chứng chỉ đạt 29,7%, trong khi lao động phi chính thức vẫn chiếm 61,9% tổng số người có việc làm (Cục Thống kê, 22/8/2026). Một thị trường lao động có tỷ trọng phi chính thức cao khó tạo nền tảng vững chắc cho học tập suốt đời, bảo hiểm xã hội, nâng cấp kỹ năng và chuyển dịch lao động vào các ngành có năng suất cao. Đổi mới mô hình tăng trưởng vì thế đồng thời là một cuộc chuyển đổi về chất lượng việc làm.
Giới hạn thứ hai là thể chế và năng lực thực thi. Đại hội XIV của Đảng xác định hệ thống thể chế phát triển chưa đồng bộ, trở thành “điểm nghẽn của điểm nghẽn” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026). Thể chế ở đây không chỉ là số lượng văn bản. Đó còn là tính ổn định, minh bạch và khả năng dự báo của chính sách; là kỷ luật thực thi; là cơ chế phân bổ nguồn lực theo hiệu quả; là trách nhiệm của người đứng đầu; là khả năng phối hợp giữa Trung ương, địa phương, khu vực công, doanh nghiệp, nhà trường và viện nghiên cứu.
Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, rất ít quốc gia vượt qua bẫy thu nhập trung bình nếu không liên tục nâng cao chất lượng thể chế. WB (2024) nhấn mạnh rằng cải cách thể chế không dừng ở việc ban hành luật mới; kết quả phụ thuộc vào tổ chức có năng lực, hệ thống vận hành hiệu quả và động lực đúng để quy định được thực thi. Nói cách khác, khoảng cách đáng lo nhất không chỉ là khoảng cách giữa chính sách và mục tiêu mà còn là khoảng cách giữa chính sách và kết quả trong đời sống.
Giới hạn thứ ba là sức chịu tải của môi trường. Mô hình tăng trưởng tiêu tốn nhiều năng lượng, nguyên liệu và phát thải cao không còn phù hợp khi thị trường thế giới đặt ra các tiêu chuẩn carbon ngày càng nghiêm ngặt. WB (2024) ước tính cường độ phát thải khí nhà kính trên một đơn vị GDP của Việt Nam cao hơn 45,6% so với mức trung bình của các nước thu nhập trung bình; nếu không thích ứng, tác động khí hậu có thể làm sản lượng quốc gia thấp hơn kịch bản cơ sở 9,1% vào năm 2030 và 12,5% vào năm 2050. Chuyển đổi xanh vì vậy không phải chi phí bên lề, mà là điều kiện của năng lực cạnh tranh và an ninh phát triển.
Cùng lúc, lợi thế dân số vàng không kéo dài vô hạn. Tổng tỷ suất sinh năm 2025 đạt 1,93 con/phụ nữ, tăng nhẹ so với năm 2024 nhưng vẫn dưới mức sinh thay thế; Việt Nam đang già hóa nhanh (Cục Thống kê, 05/01/2026). Khi lực lượng lao động tăng chậm lại, tăng trưởng càng phải dựa vào năng suất của mỗi người lao động, vào công nghệ và chất lượng quản trị. Những giới hạn về kỹ năng, thể chế, môi trường và dân số không tồn tại tách rời; chúng hội tụ thành sức ép phải đổi mô hình phát triển ngay trong thời gian tới. Vốn phải đi vào hạ tầng chiến lược, nghiên cứu, công nghệ và doanh nghiệp có năng lực; đất đai phải được phân bổ minh bạch, tiết kiệm, tạo giá trị dài hạn; lao động phải được nâng thành nhân lực có kỹ năng; xuất khẩu phải kéo doanh nghiệp trong nước vào chuỗi cung ứng và thúc đẩy năng lực tự chủ.
3. Xác định thời cơ và động lực tăng trưởng mới
Báo cáo Chính trị của Ban Chấp hành Trung ương (khóa XIII) tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng nêu rõ: “Xác định các động lực tăng trưởng mới và lấy khoa học công nghệ là trọng tâm để thay thế, thúc đẩy, làm mới các động lực tăng trưởng truyền thống”. Theo nghĩa đó, động lực mới không đứng ngoài động lực truyền thống mà thâm nhập, làm mới và nâng hiệu quả của chúng. Dữ liệu làm cho đất đai, hạ tầng và thị trường được quản trị chính xác hơn. Khoa học và công nghệ làm cho một đơn vị vốn tạo ra nhiều giá trị hơn. Kỹ năng làm cho lao động chuyển từ thực hiện thao tác sang giải quyết vấn đề. Thể chế tốt làm cho nguồn lực đến được nơi sử dụng hiệu quả nhất. Chuyển đổi xanh biến sức ép môi trường thành thị trường, công nghệ và việc làm mới.
Đại hội XIV của Đảng đặt mục tiêu giai đoạn 2026-2030 tăng trưởng GDP bình quân từ 10%/năm trở lên, đồng thời nâng đóng góp của năng suất nhân tố tổng hợp lên trên 55% và tốc độ tăng năng suất lao động lên khoảng 8,5%/năm (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026). Việc đặt tốc độ cao bên cạnh các chỉ tiêu về năng suất cho thấy một lựa chọn chiến lược rõ ràng: Việt Nam không theo đuổi tăng trưởng bằng mọi giá, mà phải tạo tốc độ mới từ chất lượng mới.
Bảy nghị quyết chiến lược của Bộ Chính trị ban hành từ cuối năm 2024 đến năm 2025 – các Nghị quyết số 57, 59, 66, 68, 70, 71 và 72-NQ/TW đã tạo khung chuyển động đồng bộ, bao quát khoa học, công nghệ và chuyển đổi số; hội nhập; xây dựng và thi hành pháp luật; kinh tế tư nhân; an ninh năng lượng; giáo dục, đào tạo; bảo vệ, chăm sóc sức khỏe Nhân dân. Nếu được thực hiện như một chỉnh thể, các nghị quyết này có thể kết nối những điều kiện cốt lõi của mô hình mới: thể chế, công nghệ, thị trường, con người, năng lượng và chủ thể kinh doanh.
Ngay trong năm đầu thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương khóa XIV ban hành Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 28/7/2026 về đổi mới mô hình phát triển Việt Nam; Bộ Chính trị ban hành Chương trình số 33-CTr/TW ngày 28/7/2026 thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 3 khóa XIV về đổi mới mô hình phát triển Việt Nam; Chính phủ ban hành Nghị quyết số 217/NQ-CP ngày 06/8/2026 ban hành Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 19-NQ/TW. Các văn bản này đặt đổi mới ở tầm phương thức tổ chức, quản trị và vận hành quốc gia; lấy con người làm trung tâm, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo làm động lực chính, năng suất lao động và hiệu quả phân bổ nguồn lực làm nguyên tắc trung tâm. Yêu cầu đổi mô hình phát triển vì thế đã chuyển từ tổng kết lý luận sang chương trình hành động có thời hạn, nhiệm vụ và trách nhiệm tổ chức thực hiện.
Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương (khóa XIII) tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng xác định “xác lập mô hình tăng trưởng mới” nhằm nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, giá trị gia tăng và sức cạnh tranh; lấy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chính; đồng thời thúc đẩy chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, chuyển đổi năng lượng, chuyển đổi cơ cấu và chất lượng nguồn nhân lực. Cấu trúc ấy đòi hỏi cải cách không thể tiến hành theo từng ốc đảo. Một dự án công nghệ sẽ khó tạo năng suất nếu thiếu nhân lực; nhân lực khó phát huy nếu doanh nghiệp không có động lực đổi mới; doanh nghiệp khó đầu tư dài hạn nếu thể chế thiếu ổn định; tăng trưởng khó bền vững nếu chi phí môi trường tiếp tục bị đẩy sang tương lai.
Bởi vậy, thước đo của đổi mới mô hình không chỉ là có thêm bao nhiêu chương trình hay dự án mà là những chuyển biến có thể kiểm chứng: năng suất của doanh nghiệp tăng lên; tỷ lệ giá trị Việt Nam trong sản phẩm xuất khẩu cao hơn; kết quả nghiên cứu được thương mại hóa nhanh hơn; doanh nghiệp trong nước tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng; lao động có kỹ năng và việc làm chính thức tăng lên; chi phí logistics, năng lượng và tuân thủ giảm xuống; phát thải trên một đơn vị sản phẩm được cắt giảm. Chỉ tiêu phải trở thành kỷ luật hành động, không chỉ là lời hứa của kế hoạch.
40 năm trước, Việt Nam vượt qua khủng hoảng bằng dũng khí đổi mới cơ chế quản lý cũ đã trở thành lực cản. Hôm nay, đất nước đứng trước một phép thử tương tự ở trình độ cao hơn: dám rời quỹ đạo tăng trưởng quen thuộc trước khi quỹ đạo ấy trở thành giới hạn. WB (2024) nhận định mô hình tăng trưởng dựa vào xuất khẩu hiện tại sẽ không đủ để đạt mục tiêu thu nhập cao vào năm 2045; Việt Nam phải chuyển lên các hoạt động chế tạo và dịch vụ có giá trị gia tăng cao hơn.
Điều làm nên sức mạnh của đổi mới chưa bao giờ là một công thức bất biến. Đó là khả năng nhìn thấy giới hạn của mô hình hiện hành và kiến tạo một không gian phát triển mới. Thành tựu 40 năm cho Việt Nam nền tảng và niềm tin; nhưng chỉ năng suất, tri thức, sáng tạo, thể chế hiệu quả và khát vọng vươn lên của con người mới có thể biến nền tảng ấy thành một quốc gia phát triển, thu nhập cao. Tương lai không phủ nhận quá khứ; tương lai đòi hỏi chúng ta vượt lên trên chính những động lực đã từng làm nên thành công của quá khứ.
Tài liệu tham khảo:
Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2026a). Báo cáo tổng kết một số vấn đề lý luận và thực tiễn về công cuộc đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa trong 40 năm qua ở Việt Nam.
Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2026b). Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 28/7/2026 về đổi mới mô hình phát triển Việt Nam.
Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2026c). Kết luận số 75-KL/TW ngày 28/7/2026 về bảo vệ môi trường và chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu.
Bộ Chính trị (2024). Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
Bộ Chính trị (2025a). Nghị quyết số 59-NQ/TW ngày 24/01/2025 về hội nhập quốc tế trong tình hình mới.
Bộ Chính trị (2025b). Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Bộ Chính trị (2025c). Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 về phát triển kinh tế tư nhân.
Bộ Chính trị (2025d). Nghị quyết số 70-NQ/TW ngày 20/8/2025 về bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.
Bộ Chính trị (2025e). Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo.
Bộ Chính trị (2025f). Nghị quyết số 72-NQ/TW ngày 09/9/2025 về một số giải pháp đột phá, tăng cường bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân.
Bộ Chính trị (2026). Chương trình hành động số 33-CTr/TW ngày 28/7/2026 thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV.
Chính phủ (2026). Nghị quyết số 217/NQ-CP ngày 06/8/2026 ban hành Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 19-NQ/TW.
Cục Thống kê (2026a). Thông cáo báo chí về tình hình dân số, lao động, việc làm quý IV và năm 2025, ngày 5/1/2026.
Cục Thống kê (2026b). Thông cáo báo chí về tình hình lao động, việc làm quý II và 6 tháng đầu năm 2026, ngày 3/7/2026.
Đảng Cộng sản Việt Nam (2026a). Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng.
Đảng Cộng sản Việt Nam (2026b). Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, thông qua ngày 23/1/2026.
Đảng Cộng sản Việt Nam (2026c). Phụ lục 4: Đánh giá 5 năm thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội 10 năm 2021 – 2030.
Trần Thanh Giang. Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về vấn đề ‘tam nông’ trong giai đoạn hiện nay, Cổng Tư liệu – Văn kiện Đảng.
World Bank (2024). Viet Nam 2045: Trading Up in a Changing World, Washington, D.C.
World Bank (2025a). Viet Nam 2045 – Breaking Through: Institutions for a High-Income Future, Washington, D.C.
World Bank (2025b). Viet Nam 2045 – Growing Greener: Pathways to a Resilient and Sustainable Future, Washington, D.C.
