Một số giải pháp tăng cường vai trò lãnh đạo của Tỉnh ủy Tuyên Quang nhằm phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trong bối cảnh mới

Một số giải pháp tăng cường vai trò lãnh đạo của Tỉnh ủy Tuyên Quang nhằm phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trong bối cảnh mới

Some solutions for strengthening the leadership role of the Tuyen Quang Provincial Party Committee in advancing science, technology and innovation in the new context

Trình Thị Thu Thảo
Trường Chính trị tỉnh Tuyên Quang
Email: [email protected]

(Quanlynhanuoc.vn) – Phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo ngày càng quyết định năng lực cạnh tranh, chất lượng quản trị và phát triển bền vững của địa phương. Đối với Tuyên Quang, yêu cầu này cấp thiết trong không gian phát triển mới sau sắp xếp đơn vị hành chính và quá trình triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW cùng Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo năm 2025. Bài viết sử dụng phân tích văn bản, nghiên cứu trường hợp và phân tích khoảng cách thực thi để làm rõ vai trò lãnh đạo của Tỉnh ủy, đánh giá kết quả bước đầu và nhận diện điểm nghẽn về thể chế, nguồn lực, nhân lực, hạ tầng, dữ liệu và liên kết. Kết quả cho thấy nền tảng chính trị và cơ chế chỉ đạo đã được xác lập, nhưng còn khoảng cách giữa hoàn thành đầu việc với tạo ra sản phẩm, người dùng và giá trị thực tế. Bài viết đề xuất tám nhóm giải pháp, trọng tâm là lãnh đạo theo sứ mệnh và kết quả; thể chế hóa đồng bộ; phát triển đội ngũ; phân bổ nguồn lực theo ưu tiên; củng cố hệ sinh thái; phát triển hạ tầng và dữ liệu bao trùm; xây dựng văn hóa đổi mới; kiểm tra và đánh giá dựa trên bằng chứng.

Từ khóa: Tỉnh ủy Tuyên Quang; khoa học và công nghệ; đổi mới sáng tạo; vai trò lãnh đạo; hệ thống đổi mới sáng tạo địa phương.

Abstract: The development of science, technology, and innovation is increasingly critical to a locality’s competitiveness, governance quality, and sustainable development. For Tuyen Quang, this need is particularly urgent in the new development landscape following the reorganization of administrative units and the implementation of Resolution No. 57-NQ/TW and the Law on Science, Technology, and Innovation of 2025. This article employs text analysis, case studies, and an implementation gap analysis to clarify the leadership role of the Provincial Party Committee, evaluate initial results, and identify bottlenecks related to institutional frameworks, resources, human resources, infrastructure, data, and connectivity. The results show that the political foundation and steering mechanisms have been established, but there remains a gap between completing tasks and generating tangible products, users, and real-world value. The article proposes eight groups of solutions, focusing on mission- and results-oriented leadership; comprehensive institutionalization; workforce development; prioritized resource allocation; ecosystem strengthening; development of comprehensive infrastructure and data; fostering a culture of innovation; and evidence-based monitoring and evaluation.

Keywords: Tuyen Quang Provincial Party Committee; science and technology; innovation; leadership role; local innovation system

1. Đặt vấn đề

Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo ngày càng quyết định tốc độ nâng cao năng suất, khả năng thích ứng của nền kinh tế và chất lượng cung ứng dịch vụ công. Năng lực đổi mới quốc gia chỉ chuyển hóa thành năng lực cạnh tranh khi gắn với điều kiện và chủ thể ở từng địa phương. Ở Việt Nam, Nghị quyết số 57-NQ/TW đặt khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số ở vị trí đột phá chiến lược nhằm thúc đẩy lực lượng sản xuất hiện đại và nâng cấp phương thức quản trị quốc gia (Bộ Chính trị, 2024). Định hướng đó đặt cấp ủy địa phương trước yêu cầu không chỉ quán triệt chủ trương mà còn phải tổ chức một quá trình chuyển đổi có mục tiêu, nguồn lực, sản phẩm và trách nhiệm giải trình rõ ràng.

Trong bối cảnh đó, vai trò lãnh đạo của Tỉnh ủy là điều kiện chính trị quan trọng để kết nối tầm nhìn với năng lực thực thi. Tuy nhiên, tăng cường vai trò lãnh đạo không có nghĩa Tỉnh ủy làm thay chức năng quản lý của Hội đồng nhân dân (HĐND), Ủy ban nhân dân (UBND) và cơ quan chuyên môn, cũng không phải gia tăng số lượng văn bản hoặc cuộc họp. Cốt lõi là nâng cao chất lượng định hướng, thể chế hóa, bố trí cán bộ, điều phối nguồn lực, huy động hệ sinh thái và kiểm tra bằng kết quả. Bài viết trả lời ba câu hỏi: vai trò lãnh đạo của Tỉnh ủy đối với hệ thống đổi mới sáng tạo địa phương gồm những thành tố nào; khoảng cách chủ yếu giữa chủ trương và kết quả hiện nay là gì; và cần đổi mới phương thức lãnh đạo ra sao để tạo giá trị có thể đo lường được cho người dân, doanh nghiệp và sự phát triển của tỉnh.

2. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Lý thuyết hệ thống đổi mới vùng nhấn mạnh rằng kết quả đổi mới không chỉ phụ thuộc vào năng lực của từng tổ chức mà còn phụ thuộc vào chất lượng liên kết, thể chế và cơ chế học hỏi trong một không gian cụ thể. Organisation for Economic Co-operation and Development (OECD, 2011) cho rằng chính sách đổi mới vùng cần dựa trên lợi thế địa phương, phối hợp nhiều cấp và sử dụng một tổ hợp công cụ phù hợp thay vì sao chép đồng loạt mô hình quốc gia. Mô hình ba nhà tiếp tục làm rõ động lực tương tác giữa nhà nước, cơ sở nghiên cứu, đào tạo và doanh nghiệp trong quá trình tạo lập, phổ biến và thương mại hóa tri thức (Etzkowitz & Leydesdorff, 2000). Vận dụng vào Tuyên Quang, hệ sinh thái này cần được hiểu theo nghĩa chức năng: chính quyền kiến tạo và đặt hàng; các trường, viện và chuyên gia cung cấp tri thức; doanh nghiệp, hợp tác xã và cộng đồng xác lập nhu cầu, đồng đầu tư, ứng dụng và phản hồi.

Trong hệ thống đó, sự lãnh đạo của Tỉnh ủy là quá trình xác lập định hướng chính trị và bảo đảm định hướng được chuyển hóa thành hành động thống nhất của cả hệ thống. Có thể xem xét vai trò này trên sáu phương diện: xác định tầm nhìn và bài toán ưu tiên; lãnh đạo thể chế hóa nghị quyết; lãnh đạo công tác tổ chức và cán bộ; huy động, phân bổ và điều phối nguồn lực; định hướng công tác tư tưởng, vận động xã hội; kiểm tra, giám sát và điều chỉnh. Tiêu chí đánh giá do đó không dừng ở số chương trình hoặc tỷ lệ hoàn thành thủ tục. Nó phải phản ánh tính đúng đắn của ưu tiên, tốc độ thể chế hóa, chất lượng phối hợp, mức độ huy động nguồn lực ngoài nhà nước, tỷ lệ kết quả được sử dụng và khả năng thụ hưởng công bằng giữa các địa bàn.

Phân định vai trò là điều kiện để lãnh đạo hiệu quả. Tỉnh ủy quyết định chủ trương, mục tiêu lớn, nguyên tắc phân bổ nguồn lực và yêu cầu trách nhiệm; lãnh đạo các tổ chức đảng trong cơ quan nhà nước thể chế hóa theo đúng thẩm quyền; kiểm tra việc thực hiện và xử lý điểm nghẽn liên ngành. HĐND quyết định chính sách, dự toán và giám sát theo thẩm quyền; UBND tổ chức quản lý và chịu trách nhiệm về hiệu quả thực thi; cơ quan chuyên môn thẩm định, đặt hàng, quản lý dữ liệu và hỗ trợ hệ sinh thái. Doanh nghiệp và người dân không chỉ là đối tượng thụ hưởng mà là chủ thể cùng kiến tạo. Cách phân công này giúp tăng cường lãnh đạo mà không hành chính hóa hoạt động khoa học hoặc làm suy giảm tính tự chủ chuyên môn.

Bài viết sử dụng nghiên cứu định tính dựa trên ba nhóm phương pháp. Trước hết, phương pháp phân tích văn bản được dùng để hệ thống hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW, chương trình hành động của Chính phủ, Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo năm 2025, nghị quyết đại hội đảng bộ và các kế hoạch, chỉ thị của tỉnh. Tiếp đó, phương pháp nghiên cứu trường hợp xem Tuyên Quang là một địa phương miền núi có không gian quản trị mở rộng sau sắp xếp. Cuối cùng, phân tích khoảng cách thực thi được tiến hành theo chuỗi định hướng, thể chế hóa, nguồn lực, hoạt động, sản phẩm, kết quả và tác động. Các số liệu về Tuyên Quang được cập nhật đến ngày 04/9/2026, thu thập từ văn bản, báo cáo và cổng thông tin chính thức.

3. Bối cảnh thực tiễn và những vấn đề đặt ra tại Tuyên Quang

3.1. Không gian phát triển mới và yêu cầu quản trị mới

Được hình thành trên cơ sở hợp nhất toàn bộ diện tích và dân số của tỉnh Hà Giang và tỉnh Tuyên Quang, chính quyền tỉnh mới vận hành từ ngày 01/7/2025. Tuyên Quang có diện tích tự nhiên khoảng 13.795,5 km², quy mô dân số 1.865.270 người và 124 đơn vị hành chính cấp xã (Cổng Thông tin điện tử tỉnh Tuyên Quang, 2026a; Quốc hội, 2025b). Quy mô mới tạo điều kiện liên kết tốt hơn giữa các tiểu vùng, mở rộng thị trường và kết hợp các thế mạnh về nông lâm nghiệp, dược liệu, du lịch, văn hóa và kinh tế cửa khẩu. Đồng thời, địa hình rộng, dân cư phân tán và chênh lệch về hạ tầng khiến chi phí kết nối cao, chất lượng dữ liệu không đồng đều và năng lực thực thi giữa các xã khác nhau. Việc tích hợp hệ thống thông tin, quy trình nghiệp vụ và cơ sở dữ liệu của hai địa bàn cũ không chỉ là bài toán kỹ thuật; đó còn là bài toán tổ chức, con người, quy chế chia sẻ và trách nhiệm đối với chất lượng dữ liệu.

3.2. Kết quả lãnh đạo và tổ chức thực hiện bước đầu

Trong thời gian đầu triển khai các chủ trương lớn của Trung ương về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, Tỉnh ủy Tuyên Quang đã thể hiện vai trò định hướng chính trị tương đối rõ nét. Nền tảng chính trị và cơ chế chỉ đạo của tỉnh được hình thành khá nhanh, tạo cơ sở để thống nhất nhận thức và hành động trong toàn hệ thống chính trị. Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ I, nhiệm kỳ 2025–2030, đã xác lập khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là những động lực quan trọng đối với quá trình đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao hiệu lực quản trị và cải thiện chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Trên cơ sở đó, các Kế hoạch số 24-KH/TU, 47-KH/TU và 63/KH-UBND tiếp tục cụ thể hóa mục tiêu, nhiệm vụ, tiến độ và trách nhiệm của từng cơ quan, đơn vị trong quá trình tổ chức thực hiện (Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang, 2025; Hoàng Hằng, 2025).

Việc sớm ban hành hệ thống văn bản chỉ đạo có ý nghĩa quan trọng trên ba phương diện: (1) Các văn bản đã đưa định hướng phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo vào chương trình công tác của cấp ủy, chính quyền, khắc phục tình trạng xem đây là nhiệm vụ riêng của cơ quan chuyên môn. (2) Việc phân công trách nhiệm tương đối cụ thể tạo điều kiện xác định rõ cơ quan chủ trì, cơ quan phối hợp và trách nhiệm của người đứng đầu. (3) Sự kết nối giữa nghị quyết của Đảng bộ tỉnh với kế hoạch hành động của chính quyền góp phần chuyển hóa chủ trương chính trị thành nhiệm vụ quản lý, đầu tư và tổ chức thực hiện trên thực tế. Đây là bước chuyển cần thiết bởi hiệu quả lãnh đạo không chỉ được đánh giá qua số lượng nghị quyết, chương trình hay kế hoạch được ban hành mà quan trọng hơn là khả năng biến các định hướng đó thành kết quả phát triển có thể đo lường.

Kết quả bước đầu cho thấy, công tác quản lý nhiệm vụ khoa học và công nghệ đã được duy trì trong điều kiện tỉnh phải đồng thời triển khai nhiều nhiệm vụ về tổ chức bộ máy, cải cách hành chính và chuyển đổi số. Trong tám tháng đầu năm 2026, tỉnh quản lý 53 đề tài, dự án khoa học và công nghệ, đồng thời tổ chức nghiệm thu 12 nhiệm vụ. Quy mô này phản ánh hoạt động nghiên cứu, ứng dụng và chuyển giao khoa học, công nghệ đã được triển khai trên nhiều lĩnh vực. Việc nghiệm thu các nhiệm vụ cũng cho thấy chu trình quản lý từ đề xuất, tuyển chọn, tổ chức thực hiện đến đánh giá kết quả đã tiếp tục được vận hành. Tuy nhiên, để đánh giá đầy đủ hiệu quả lãnh đạo, cần quan tâm sâu hơn đến chất lượng sản phẩm sau nghiệm thu, khả năng ứng dụng kết quả nghiên cứu, mức độ tham gia của doanh nghiệp và tác động thực tế đối với năng suất, chất lượng sản phẩm cũng như đời sống của người dân.

Chuyển đổi số trong hoạt động quản lý nhà nước đạt được một số kết quả tương đối rõ. Trong cùng thời gian, 94,52% hồ sơ mới được nộp trực tuyến và 99,43% hồ sơ được giải quyết đúng hoặc trước hạn. Những con số này cho thấy, việc cung cấp và sử dụng dịch vụ công trực tuyến từng bước trở thành phương thức phổ biến trong quan hệ giữa cơ quan nhà nước với người dân, doanh nghiệp. Tỷ lệ giải quyết hồ sơ đúng hạn ở mức cao phản ánh sự chuyển biến về kỷ luật hành chính, quy trình xử lý công việc và khả năng theo dõi tiến độ trên môi trường số. Kết quả này cũng góp phần giảm thời gian đi lại, chi phí thực hiện thủ tục hành chính và tăng tính công khai trong hoạt động của cơ quan công quyền.

Hạ tầng viễn thông tiếp tục được mở rộng, tạo điều kiện vật chất cho quá trình chuyển đổi số. Toàn tỉnh có 3.135 vị trí trạm thu phát sóng, trong đó có 593 trạm 5G. Việc phát triển hạ tầng mạng, đặc biệt là hạ tầng 5G, mở ra khả năng nâng cao chất lượng kết nối, triển khai dịch vụ công trực tuyến, thương mại điện tử, giáo dục số, y tế từ xa và ứng dụng công nghệ trong quản lý sản xuất. Đối với một địa phương có địa bàn rộng, nhiều khu vực miền núi và dân cư phân bố không tập trung như Tuyên Quang, mở rộng vùng phủ sóng không chỉ là một nhiệm vụ kỹ thuật mà còn có ý nghĩa thu hẹp khoảng cách tiếp cận dịch vụ và tạo cơ hội phát triển bình đẳng hơn giữa các khu vực.

Những kết quả trên bước đầu thể hiện vai trò lãnh đạo của Tỉnh ủy trên một số phương diện cơ bản: định hướng mục tiêu phát triển; tạo lập cơ chế phối hợp; thúc đẩy trách nhiệm của chính quyền và các cơ quan chuyên môn; đưa chuyển đổi số vào hoạt động thường xuyên của hệ thống chính trị; đồng thời quan tâm xây dựng hạ tầng phục vụ phát triển lâu dài. Đặc biệt, việc gắn khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo với chuyển đổi số đã tạo ra một không gian chính sách tương đối thống nhất, hạn chế tình trạng triển khai riêng lẻ, phân tán giữa các ngành và lĩnh vực.

3.3. Hạn chế và nguyên nhân chủ yếu

Một là, các điều kiện nền tảng chưa đồng đều giữa khu vực trung tâm với vùng sâu, vùng xa và giữa các nhóm dân cư. Theo số liệu công bố ngày 12/01/2026, trên địa bàn tỉnh vẫn còn những thôn chưa có điện hoặc thuộc vùng trắng, vùng lõm sóng. Tỷ lệ kích hoạt tài khoản định danh điện tử mức độ 2 đạt khoảng 73%, trong khi tỷ lệ tích hợp thông tin bảo hiểm y tế trên ứng dụng VNeID chưa đạt 30% (Đoàn Thư, 2026). Những chỉ báo này phản ánh khoảng cách giữa việc xây dựng hạ tầng, cung cấp nền tảng số với khả năng tiếp cận và sử dụng thực tế của người dân.

Tình trạng còn thôn chưa có điện, chưa được phủ sóng ổn định tạo ra rào cản trực tiếp đối với việc phổ cập dịch vụ công trực tuyến, giáo dục số, y tế số và thương mại điện tử. Người dân tại các khu vực này khó có thể thụ hưởng đầy đủ thành quả chuyển đổi số nếu không được bảo đảm các điều kiện tối thiểu về điện, kết nối mạng, thiết bị và kỹ năng sử dụng. Vì vậy, tỷ lệ hồ sơ trực tuyến cao ở cấp tỉnh cần được phân tích cùng với mức độ tiếp cận của từng địa bàn và từng nhóm dân cư. Nếu không quan tâm đến sự khác biệt này, chuyển đổi số có thể đạt kết quả tốt về số lượng nhưng chưa bảo đảm tính bao trùm.

Hai là, việc kết nối và khai thác dữ liệu còn hạn chế. Cơ sở dữ liệu đất đai, hộ tịch và một số cơ sở dữ liệu chuyên ngành chưa được chia sẻ đầy đủ; khả năng liên thông giữa các hệ thống chưa đáp ứng yêu cầu quản lý và cung cấp dịch vụ công dựa trên dữ liệu. Khi dữ liệu còn phân tán, thiếu chuẩn hóa hoặc chưa được cập nhật kịp thời, cán bộ vẫn phải thực hiện nhiều thao tác thủ công, người dân có thể phải cung cấp lại thông tin đã có và cơ quan quản lý khó sử dụng dữ liệu để dự báo, xây dựng chính sách. Hạn chế này cho thấy chuyển đổi số không chỉ là đưa thủ tục lên môi trường mạng mà còn phải tái thiết kế quy trình, thống nhất tiêu chuẩn dữ liệu và xác định rõ trách nhiệm cập nhật, chia sẻ, bảo vệ dữ liệu.

Ba là, nguồn nhân lực công nghệ thông tin và nhân lực có khả năng tổ chức hoạt động đổi mới sáng tạo còn thiếu. Hạn chế về số lượng và chất lượng nhân lực ảnh hưởng trực tiếp đến năng lực vận hành hệ thống, bảo đảm an toàn thông tin, phân tích dữ liệu và hỗ trợ người sử dụng. Ở cấp cơ sở, một cán bộ có thể phải kiêm nhiệm nhiều nhiệm vụ nên khó dành đủ thời gian cập nhật kiến thức và xử lý các vấn đề kỹ thuật. Trong doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ, hợp tác xã và hộ sản xuất, khả năng nhận diện nhu cầu công nghệ, tiếp cận chuyên gia và xây dựng phương án đổi mới còn hạn chế. Vì thế, dù có cơ chế hỗ trợ, nhiều chủ thể vẫn khó chuyển nhu cầu thực tiễn thành đề xuất hoặc dự án đủ điều kiện triển khai.

Bốn là, mối liên kết giữa hoạt động nghiên cứu, hỗ trợ khởi nghiệp và nhu cầu đổi mới của doanh nghiệp chưa chặt chẽ (Ngọc Hưng, 2026). Một số nhiệm vụ khoa học có thể hoàn thành về mặt chuyên môn nhưng chưa xác định rõ chủ thể tiếp nhận, phương án ứng dụng và thị trường đầu ra. Hoạt động hỗ trợ khởi nghiệp có nguy cơ tập trung vào tuyên truyền, đào tạo hoặc tổ chức sự kiện, trong khi doanh nghiệp cần những hỗ trợ thiết thực hơn về công nghệ, vốn, thử nghiệm sản phẩm, sở hữu trí tuệ, tiêu chuẩn chất lượng và kết nối thị trường. Khi thiếu cơ chế phối hợp thường xuyên giữa cơ quan quản lý, tổ chức nghiên cứu, cơ sở đào tạo và doanh nghiệp, kết quả nghiên cứu khó được chuyển hóa thành sản phẩm thương mại hoặc giải pháp có khả năng nhân rộng.

4. Một số giải pháp

Thứ nhất, đổi mới tư duy lãnh đạo theo sứ mệnh và kết quả phát triển.

Ban Chấp hành và Ban Thường vụ Tỉnh ủy cần thống nhất quan điểm coi khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo là phương thức giải quyết bài toán phát triển, không chỉ là một lĩnh vực chi ngân sách. Cách tiếp cận chính sách theo sứ mệnh cho phép cơ quan công quyền nêu đích đến xã hội rõ ràng nhưng mở không gian cạnh tranh về giải pháp (Mazzucato, 2018). Trên cơ sở Nghị quyết số 57-NQ/TW, tỉnh nên xác lập một số sứ mệnh ưu tiên đến năm 2030: nâng giá trị chuỗi nông lâm sản và dược liệu; phát triển du lịch dựa trên dữ liệu; giám sát tài nguyên, thiên tai; cung cấp dịch vụ công liền mạch; thu hẹp khoảng cách số. Mỗi sứ mệnh cần nêu nhóm thụ hưởng, kết quả cuối kỳ và chỉ số tác động; mỗi nhiệm vụ xác định sản phẩm tối thiểu, đơn vị sử dụng, dữ liệu nền và chi phí vòng đời. Danh mục được rà soát định kỳ để tiếp tục, điều chỉnh, hợp nhất hoặc dừng trên cơ sở bằng chứng.

Thứ hai, hoàn thiện cơ chế lãnh đạo việc thể chế hóa và phối hợp thực thi.

Tỉnh ủy cần lãnh đạo thiết lập quy trình khép kín từ nghị quyết đến chính sách, dự toán, tổ chức thực hiện, đánh giá và điều chỉnh. Ngay sau khi có chủ trương, Đảng ủy Ủy ban nhân dân tỉnh phải xác định văn bản thuộc thẩm quyền của HĐND hay UBND, nguồn kinh phí, cơ quan chủ trì, thời hạn và sản phẩm bàn giao. Với vướng mắc về đặt hàng, mua sắm công nghệ, dữ liệu, tài sản và thương mại hóa kết quả nghiên cứu, cần phân loại nội dung tỉnh có thể xử lý hoặc phải kiến nghị Trung ương. Nghị quyết số 71/NQ-CP, được sửa đổi, bổ sung, cập nhật bởi Nghị quyết số 11/NQ-CP năm 2026, cùng Luật năm 2025 là căn cứ để chuyển mạnh sang quản lý theo mục tiêu và kết quả (Chính phủ, 2025b, 2026; Quốc hội, 2025a). Cơ chế phối hợp phải rõ người, việc, thời hạn, sản phẩm và trách nhiệm, nhưng không để Ban Chỉ đạo làm thay cơ quan chuyên môn.

Thứ ba, kiện toàn tổ chức và phát triển đội ngũ cán bộ lãnh đạo đổi mới.

Công tác cán bộ phải được xem là điểm nối giữa quyết tâm chính trị và năng lực thực thi. Ban Tổ chức Tỉnh ủy phối hợp với Đảng ủy Ủy ban nhân dân tỉnh cần xây dựng khung năng lực cho người đứng đầu và cán bộ tham mưu ở các vị trí liên quan. Khung này nên bao gồm tư duy hệ thống, năng lực đặt bài toán, hiểu biết về dữ liệu và an toàn số, kỹ năng quản lý danh mục dự án, hợp tác công tư, đánh giá công nghệ và truyền thông thay đổi. Kết quả bồi dưỡng không nên chỉ là chứng chỉ; mỗi học viên phải giải quyết một tình huống thực tế hoặc hoàn thành sản phẩm tại cơ quan. Việc đánh giá người đứng đầu cần gắn với tỷ lệ sản phẩm được vận hành, mức độ sử dụng và kết quả xử lý điểm nghẽn liên ngành.

Thứ tư, đổi mới phân bổ nguồn lực và cơ chế đặt hàng.

Nguồn lực hữu hạn đòi hỏi Tỉnh ủy lãnh đạo chuyển từ phân bổ bình quân sang đầu tư theo danh mục sứ mệnh. Ngân sách nhà nước cần đóng vai trò vốn mồi cho bài toán có giá trị công hoặc rủi ro cao, đồng thời khuyến khích doanh nghiệp đồng tài trợ dự án có khả năng thương mại. Trong phạm vi pháp luật và cơ chế tài chính được cấp có thẩm quyền cho phép, kinh phí nên giải ngân theo cột mốc sản phẩm được kiểm chứng; có thể cấp khoản hỗ trợ quy mô nhỏ để kiểm chứng vấn đề và nguyên mẫu, sau đó lựa chọn cạnh tranh để mở rộng. Việc xem xét quỹ đầu tư mạo hiểm của địa phương cần tuân thủ Nghị định số 264/2025/NĐ-CP, bắt đầu từ phân tích khoảng trống thị trường, cơ chế quản trị và phương án thu hút tư nhân, không coi thành lập quỹ là mục tiêu (Chính phủ, 2025a). Tỉnh cần rà soát các nguồn chi khoa học và công nghệ, chuyển đổi số, khuyến công, khuyến nông, đào tạo để tránh trùng lặp; đánh giá giữa kỳ phải có quyền điều chỉnh hoặc dừng nhiệm vụ kém hiệu quả.

Thứ năm, phát triển hệ sinh thái liên kết viện, trường, doanh nghiệp và cộng đồng.

Vai trò nổi bật của Tỉnh ủy là tạo khuôn khổ, trách nhiệm, động lực phối hợp và xây dựng niềm tin giữa những chủ thể vốn vận hành theo các động cơ khác nhau. Tỉnh nên tổ chức cơ chế công bố bài toán định kỳ, trong đó sở, xã, doanh nghiệp và hợp tác xã mô tả nhu cầu, dữ liệu sẵn có, quy mô người dùng và tiêu chí thành công; viện, trường, doanh nghiệp công nghệ đề xuất giải pháp. Hợp tác chỉ được tính là kết quả khi có hợp đồng hoặc nhiệm vụ quy định rõ sản phẩm, kinh phí, quyền sở hữu trí tuệ, đơn vị tiếp nhận và kế hoạch duy trì. Cơ chế này biến mô hình ba nhà từ khẩu hiệu thành quan hệ trao đổi có trách nhiệm, đồng thời cho phép địa phương tiếp cận tri thức ngoài tỉnh mà không phải tự xây dựng mọi năng lực. Định hướng này phù hợp với chủ trương của tỉnh về phát triển hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo (Phan Thanh Bình, 2026).

Thứ sáu, phát triển hạ tầng số, dữ liệu và năng lực tiếp cận bao trùm.

Tỉnh ủy cần lãnh đạo theo hướng coi điện, kết nối viễn thông, dữ liệu và an toàn thông tin là hạ tầng thiết yếu của đổi mới. Trước mắt, tỉnh nên lập bản đồ đến cấp thôn về vùng thiếu điện, lõm sóng, chất lượng đường truyền, điểm phục vụ công và nhóm dân cư khó tiếp cận; trên cơ sở đó ưu tiên đầu tư theo mức độ thiếu hụt và số người thụ hưởng. Mỗi dự án hạ tầng phải có chỉ số chất lượng dịch vụ, độ ổn định và tỷ lệ sử dụng sau đầu tư. Các nền tảng dùng chung cần được thiết kế theo nguyên tắc không tạo thêm gánh nặng nhập liệu, có khả năng hoạt động trong điều kiện kết nối yếu và hỗ trợ người dùng tại chỗ. Việc phổ cập định danh điện tử, thanh toán số và hồ sơ sức khỏe phải gắn với tình huống sử dụng thiết thực.

Về dữ liệu, tỉnh cần ban hành kiến trúc quản trị thống nhất cho không gian sau sáp nhập: xác định chủ sở hữu nghiệp vụ, tiêu chuẩn dữ liệu, mã định danh, quy trình làm sạch, quyền truy cập, nhật ký sử dụng và trách nhiệm khi dữ liệu sai. Ưu tiên đầu tiên là các bộ dữ liệu nền phục vụ người dân và điều hành như dân cư, hộ tịch, đất đai, doanh nghiệp, an sinh, nông nghiệp và thiên tai. Dữ liệu đủ điều kiện nên được chia sẻ có kiểm soát cho nghiên cứu và phát triển dịch vụ, nhưng phải tuân thủ pháp luật về bảo vệ dữ liệu cá nhân và an ninh mạng. Mọi dự án trí tuệ nhân tạo cần có hồ sơ nguồn dữ liệu, tiêu chí đánh giá sai lệch, cơ chế giám sát của con người và phương án xử lý sự cố; không mua sắm công nghệ chỉ vì tính thời thượng.

Thứ bảy, xây dựng văn hóa đổi mới sáng tạo và huy động toàn xã hội.

Đổi mới sáng tạo chỉ bền vững khi trở thành năng lực xã hội thay vì chiến dịch ngắn hạn. Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy và Đảng ủy Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể tỉnh (Nguyên Minh, 2026) cần chuyển truyền thông từ phổ biến khái niệm sang hướng dẫn kỹ năng và giới thiệu mô hình tạo giá trị. Phong trào Bình dân học vụ số nên phân nhóm người học theo nhu cầu: cán bộ cần biết sử dụng dữ liệu và bảo đảm an toàn; doanh nghiệp, hợp tác xã cần kỹ năng quản trị số, thương mại điện tử và sở hữu trí tuệ; người dân cần thực hiện dịch vụ thiết yếu, nhận diện lừa đảo và bảo vệ thông tin cá nhân. Tài liệu và hình thức hỗ trợ phải phù hợp với người cao tuổi, người khuyết tật và đồng bào dân tộc thiểu số.

Thứ tám, tăng cường kiểm tra, giám sát và học hỏi chính sách dựa trên dữ liệu.

Kiểm tra, giám sát cần chuyển từ xem xét hồ sơ sau sự việc sang quản trị rủi ro trong toàn bộ vòng đời nhiệm vụ. Mỗi nhiệm vụ phải có mã định danh, cơ quan chịu trách nhiệm, kinh phí, mốc thời gian, sản phẩm, người sử dụng và dữ liệu kết quả. Ban Chỉ đạo sử dụng bảng điều hành để cảnh báo nhiệm vụ chậm, thiếu dữ liệu hoặc vượt chi phí; cơ quan kiểm tra, thanh tra lựa chọn chuyên đề theo rủi ro, tập trung vào trách nhiệm người đứng đầu, mua sắm, chất lượng dữ liệu, xung đột lợi ích và khả năng ứng dụng. Khung đánh giá gồm bốn tầng: đầu vào là kinh phí, nhân lực, hạ tầng, dữ liệu; đầu ra là công nghệ, quy trình và hợp đồng; kết quả là số người dùng, chi phí, thời gian hoặc năng suất được cải thiện; tác động là giá trị gia tăng, năng lực cạnh tranh, chất lượng quản trị và mức độ thụ hưởng. PII nên được dùng để chẩn đoán trụ cột yếu, không phải mục tiêu duy nhất. Báo cáo hằng năm cần công khai kết quả, nguyên nhân chưa đạt và quyết định điều chỉnh.

5. Kết luận

Tuyên Quang bước vào giai đoạn phát triển mới với không gian rộng hơn, tiềm năng liên kết lớn hơn và yêu cầu quản trị phức tạp hơn. Nghị quyết số 57-NQ/TW, khung pháp luật mới và các chủ trương của tỉnh đã tạo nền tảng chính trị quan trọng. Tuy nhiên, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo chỉ trở thành động lực khi đầu việc chuyển thành công nghệ được sử dụng, dữ liệu đáng tin cậy, doanh nghiệp đổi mới và cơ hội tiếp cận công bằng. Tăng cường vai trò lãnh đạo vì vậy đòi hỏi đổi mới phương thức lãnh đạo, hình thành chu trình khép kín từ lựa chọn sứ mệnh, thể chế hóa, bố trí cán bộ và nguồn lực đến huy động hệ sinh thái, thử nghiệm, đo lường và điều chỉnh. Trong chu trình đó, Tỉnh ủy định hướng và bảo đảm trách nhiệm chính trị; chính quyền quản lý; nhà khoa học, doanh nghiệp và người dân cùng tạo lập, ứng dụng và thụ hưởng giá trị.

Tài liệu tham khảo:
Bộ Chính trị (2024). Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
Phan Thanh Bình (26/5/2026). Đẩy mạnh xây dựng hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang. https://tuyenquang.dcs.vn/tin/dot-pha-phat-trien-khoa-hoc-cong-nghe-doi-moi-sang-tao-va-chuyen-doi-so-quoc-gia/day-manh-xay-dung-he-sinh-thai-khoi-nghiep-doi-moi-sang-tao-tren-dia-ban-tinh
Chính phủ (2025a). Nghị định số 264/2025/NĐ-CP ngày 14/10/2025 quy định về Quỹ đầu tư mạo hiểm quốc gia và quỹ đầu tư mạo hiểm của địa phương.
Chính phủ (2025b). Nghị quyết số 71/NQ-CP ngày 01/4/2025 sửa đổi, bổ sung, cập nhật Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW.
Chính phủ (2026). Nghị quyết số 11/NQ-CP ngày 14/01/2026 sửa đổi, bổ sung, cập nhật Nghị quyết số 71/NQ-CP.
Cổng Thông tin điện tử tỉnh Tuyên Quang (01/01/2026). 10 sự kiện và kết quả nổi bật tỉnh Tuyên Quang năm 2025. https://www.tuyenquang.gov.vn/vi/post/10-su-kien-va-ket-qua-noi-bat-tinh-tuyen-quang-nam-2025?id=197998&type=NEWS
Cổng Thông tin điện tử tỉnh Tuyên Quang (04/9/2026). Nâng cao hiệu quả thực hiện các nhiệm vụ về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. https://www.tuyenquang.gov.vn/vi/post/nang-cao-hieu-qua-thuc-hien-cac-nhiem-vu-ve-khoa-hoc-cong-nghe-doi-moi-sang-tao-va-chuyen-doi-so?id=255446&type=NEWS
Cổng Thông tin điện tử tỉnh Tuyên Quang (07/7/2026). Tuyên Quang đặt mục tiêu nâng Chỉ số đổi mới sáng tạo cấp địa phương vào nhóm khá khu vực trung du và miền núi phía Bắc đến năm 2030. https://www.tuyenquang.gov.vn/vi/post/tuyen-quang-dat-muc-tieu-nang-chi-so-doi-moi-sang-tao-cap-dia-phuong-vao-nhom-kha-khu-vuc-trung-du-va-mien-nui-phia-bac-den-nam-2030?id=240983&type=NEWS
Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang (10/10/2025). Nghị quyết số 01-NQ/ĐH Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang lần thứ I nhiệm kỳ 2025–2030. https://tuyenquang.dcs.vn/Document/9199/3/12/9199.html
Đoàn Thư (12/01/2026). Chuyển đổi số: Giải quyết thách thức từ những “vùng trũng”. https://tuyenquang.dcs.vn/tin/dot-pha-phat-trien-khoa-hoc-cong-nghe-doi-moi-sang-tao-va-chuyen-doi-so-quoc-gia/chuyen-doi-so-giai-quyet-thach-thuc-tu-nhung-vung-trung
Hoàng Hằng (11/11/2025). Đến hết 2025, phấn đấu hoàn thành 141 nhiệm vụ về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trên địa bàn tỉnh. https://tuyenquang.dcs.vn/tin/dot-pha-phat-trien-khoa-hoc-cong-nghe-doi-moi-sang-tao-va-chuyen-doi-so-quoc-gia/den-het-2025-phan-dau-hoan-thanh-141-nhiem-vu-ve-phat-trien-khoa-hoc-cong-nghe
Ngọc Hưng (09/4/2026). Đồng chí Bí thư Tỉnh ủy Hầu A Lềnh: Cần tạo chuyển biến thực chất trong phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. https://btgdvtu.tuyenquang.dcs.vn/tin/van-phong-thong-tin-tong-hop/dong-chi-bi-thu-tinh-uy-hau-a-lenh-can-tao-chuyen-bien-thuc-chat-trong-phat
Etzkowitz, H., & Leydesdorff, L. (2000). The dynamics of innovation: From national systems and ‘Mode 2’ to a Triple Helix of university–industry–government relations. Research Policy, 29(2), 109–123. https://doi.org/10.1016/S0048-7333(99)00055-4
Mazzucato, M. (2018). Mission-oriented innovation policies: Challenges and opportunities. Industrial and Corporate Change, 27(5), 803–815. https://doi.org/10.1093/icc/dty034
Nguyên Minh (28/8/2026). Tuyên Quang đổi tên Ban Tuyên giáo và Dân vận Tỉnh ủy thành Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy. https://btgdvtu.tuyenquang.dcs.vn/tin/van-phong-thong-tin-tong-hop/tuyen-quang-doi-ten-ban-tuyen-giao-va-dan-van-tinh-uy-thanh-ban-tuyen-giao-tinh
Organisation for Economic Co-operation and Development. (2011). Regions and innovation policy. https://doi.org/10.1787/9789264097803-en
Quốc hội (2025). Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo năm 2025.
Quốc hội (2025). Nghị quyết số 202/2025/QH15 ngày 12/6/2025 về việc sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh.

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *